Trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương - Ga 13:34
SƯU TẦM
back
Lễ Hội La Vang: TRONG DÒNG CHẢY ÐỨC TIN VÀ VĂN HOÁ

Từ lâu, hội nhập văn hoá không còn là một khái niệm mơ hồ, trừu tượng nữa. Nó đã trở thành một khát khao cháy bỏng, một tư tưởng chủ đạo trong lòng Giáo Hội toàn cầu, đặc biệt trong lòng Giáo Hội Việt Nam. Kinh nghiệm truyền giáo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã mở ra những cánh cửa rộng hẹp khác nhau. Tương tự là trường hợp ở Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam vào thế kỷ XVI, XVII. Vấn đề xem ra càng lúc càng nóng sốt và thôi thúc hơn. Ðại lễ "Bế mạc Năm Toàn Xá Ðức MeÏ La Vang và Ðại Hội Hành Hương lần thứ 25" (từ 13 đến 15-08-1999) vừa qua, một thời sự hàng đầu của Giáo Hội Việt Nam đã được thông tin khắp thế giới. Dù chỉ là sáng tạo và thể nghiệm, nhưng ít ra, nó đã giải quyết và cụ thể hoá được nhiều khúc mắc, làm tiền đề cho một đường hướng hội nhập văn hoá của ngày mai.

Chẳng hiểu lễ hội đã có mặt trong đời sống văn hoá của con người từ thuở nào. Càng khó phân tích rạch ròi cái nguyên nhân tại sao lễ và hội đã dính kết vào nhau như một quy luật. Chỉ biết rằng muốn cho thế giới bên ngoài cảm nhận thế nào là bản thể dân tộc của một nền văn hoá thì cứ ưu ái mời họ tìm đến để cùng hít thở bầu khí của các lễ hội. Chẳng nói đâu xa, Âu Mỹ đang hành trình về phương Ðông. Chắc chắn không phải để đi xe siêu tốc, ở nhà chọc trời, vào khách sạn nhà hàng 5, 10 sao để ăn món Hamburger, McDonald, hoặc uống Coca Cola, Hen- nessy... Cứ quay lại những thước phim về các hội nghị toàn cầu, các Vận Ðộng Hội thế giới, châu lục, khu vực ... thì đủ rõ tầm mức của văn hoá trong lễ hội quan trọng là dường nào. Từ Olimpic ở Matxcova 1980, Seoul 1988, Barcelona 1992, Atlanta 1996 cho đến những World Cup, Asiad và SEA Games, ... Bên cạnh cuộc đọ sức, đấu trí quyết liệt và sòng phẳng về cơ bắp, về tài năng, về kỹ chiến thuật, vẫn ngồn ngộn và hoành tráng những lễ hội truyền thống muôn màu muôn vẻ. Người ta lại bảo đây là thời phục hưng về văn hoá của thế giới da màu. Rõ ràng đang manh nha một xu thế nhân văn, một ngôn ngữ Esperanto, một hành trình đa văn hoá. Ðã có con người tư duy, con người lao động, ắt phải có con người vui chơi hội hè. Homo sapiens, homo faber, homo ludens.

Các nhà nghiên cứu dân tộc học đưa ra nhận định, lễ hội của người Việt mình đã có tuổi đời rất lâu. Nó hiện diện rất sớm ở đồng bằng Bắc Bộ - chiếc nôi của văn hoá sông Hồng - vào khoảng thế kỷ thứ năm, thứ sáu trước Công Nguyên : lễ hội Mùa Thu. Ðến khi cây lúa chiêm đi vào thời vụ đồng áng, ta có thêm lễ hội Mùa Xuân. Thế là thành nếp "Xuân Thu nhị kỳ", văn hoá lúa nước của người Việt cứ vậy mà đủng đỉnh vui chơi, hội hè. Dĩ nhiên vẫn chỉ là đồng mùa, thôn dã. Sau đó, với sự du nhập của Phật, Nho, Lão, Thiên Chúa giáo và các dòng văn hoá, học thuật khác, lễ hội dân gian Việt Nam đã ít nhiều có chuyển biến, pha tạp. Nhưng nói chung, không đi ra ngoài các loại hình nội dung như sau :

- Truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm.

- Ðạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo.

- Thăm thú, vãn cảnh.

- Phong tục, tập quán.

Số phận các lễ hội, trải qua thời gian đã khác. Có lúc, nó đã bị sửa đổi, thêm bớt ; thậm chí bị cấm đoán dưới một số triều đại phong kiến, võ biền, tộc trị. Rất may, chưa bao giờ lễ hội - với ý nghĩa là một sinh hoạt tinh thần, một sản phẩm văn hoá - bị huỷ diệt. Nó tồn tại và sống mãi, dồi dào với thời gian, bởi nó là phần hồn của một dân tộc mà từ điểm xuất phát ấy, hiện tại và tương lai của một dân tộc đã bắt mạch, khơi nguồn. Từ lễ tế Nam Giao, anh hùng liệt nữ, thành hoàng, tổ nghiệp, kỳ yên, cầu phúc cầu mưa, đọc sử làng cho đến nghinh ông, thờ mẫu, giỗ trận ..v.v... Tất cả cái ký ức văn hoá lễ hội ấy như đã bén rễ sâu trong tâm thức hàng triệu triệu người Việt, hẳn sẽ vang động hơn là khi ta mở lại các trang giáo khoa thư lịch sử ?

Thống kê cho thấy danh mục lễ hội của người Việt còn đạt con số kỷ lục : 356. Tính ra, mỗi ngày đều có lễ hội. Nghĩa là quanh năm suốt tháng cứ áo lục quần điều, cứ dập dìu tài tử giai nhân, cứ cờ đèn kèn trống, cứ sênh phách cầm ca vang rền nền nảy. Trong khi ấy, lễ hội của nhà đạo cũng chẳng kém cạnh. Xin cảm ơn tổ tiên một dân tộc "quý sĩ trọng nông", coi "nhân lễ nghĩa trí tín" là chuyện hàng đầu trong kính bái thần linh và đối nhân xử thế. Xin hết mực tri ân các bậc nho sĩ thức giả đã hợp tác với các giáo đoàn ngay từ buổi hừng đông của rao giảng Tin Mừng trên mảnh đất thân yêu này, để vận dụng các loại hình nghệ thuật dân tộc vào phụng vụ. Từ bài đọc giáo lý vào đạo (Phép Giảng Tám Ngày), từ hạnh tích các thánh đến kinh sách, cầu nguyện, suy gẫm, lễ lạy, mùa nào thức ấy (Vãn Giáng Sinh, Sấm Truyền ca, Ngắm Lễ, Ngắm 15 sự thương khó Ðức Chúa Giêsu, Vãn Thánh Giá, Vãn Hang Ðá, Kiệu Bắt, Rước Lá (dừa), Dâng Hạt, Dâng Hoa, Phép Ngắm Rosa ....). Chính nhờ vốn liếng phong phú về lễ hội và cung giọng ngôn ngữ giàu tính thi ca của người Việt mà đức tin trở thành lòng đạo. Phụng vụ diễn ra theo lịch của Giáo Hội, nhưng luôn cùng nhịp thở với thời vụ, với con nước, tuần trăng. Buổi đầu sáng tạo ấy, cách đây 400 năm, phải chăng đã là ngọn gió sớm của Thần Khí thổi vào Giáo Hội vậy.

Về các Ðịa Phận Dòng, nơi ký ức của những người trọng tuổi, hẳn còn âm vang một thời xôn xao lễ hội. Trích đoạn bài vãn sau đây để hình dung ra một chu kỳ phụng vụ, một tờ "Lịch Công Giáo" rất Âm lịch Việt Nam :

Tháng Giêng ăn tết ở nhà,

Tháng Hai ngắm đứng, tháng Ba ra mùa

Tháng Tư tập trống rước hoa

Ðốt đèn, làm tạm, chầu giờ tháng Năm

....

Tháng Sáu kiệu ảnh Lái Tim

Tháng Bảy chung tiền đi lễ Phú Nhai

Tháng Tám đọc ngắm Mân Côi

Trở về tháng Chín xem nơi chồng mồ

Tháng Mười mua giấy sao tua

Trở về Một, Chạp, sang mùa ăn chay ...

Như vậy, không chỉ có "Xuân Thu nhị kỳ", mà là mật độ khá dày "tứ thời bát tiết" của một chuỗi những lễ hội nhà đạo. Từ mùa Vọng, mùa Giáng Sinh, Ba Vua, Lễ Nến Tết đến sau lưng, mùa Chay, mùa Thương Khó, tuần Thánh, ra Mùa (mùa quanh năm), thánh Ba kính thánh Giuse, tháng Năm dâng hoa Ðức Mẹ, tháng Sáu Kính Trái Tim Chúa Giêsu, thánh Tám Lễ Ðầu Dòng, cho đến tháng Mười Mân Côi, tháng Mười Một kính nhớ tổ tiên ...

Vẫn biết lễ lạy kinh hạt là chuyện "hát lâu, chầu mỏi" thật đấy. Thế nhưng trong tâm thức và thực tế đời sống của người Công Giáo Việt Nam, nhà thờ, nhà thánh và lễ lạy, kinh hạt vẫn chiếm lĩnh vị trí chủ đạo. Không có cha, không có lễ, chỉ là một "xứ đạo mồ côi". Không kinh hạt, kiệu cờ, rước sách, hội đoàn thì không sốt sắng, cứ thấy nó thiêu thiếu, nhơ nhớ, ấm ách không chịu được.

Ở La Vang, đỉnh điểm của lễ hội diễn ra trong ba ngày là 4 thánh lễ đồng tế với 4 chủ đề : "Ðức Maria, Mẹ của lòng thương xót" ; "Ðức Maria, MeÏ của Hiệp Nhất" ; "Vọng" ; và "Mừng kính Ðức Mẹ hồn xác về trời". Cung nghinh, chầu tạ Thánh Thể. Ðông ken. Chật cứng. Cùng một lời kinh. Cùng một câu hát. Cùng một cử điệu : đứng, quỳ, ngồi, cúi đầu, bắt tay, làm dấu, mở miệng rước Chúa vào lòng. Và cũng có một sự thinh lặng tuyệt vời trong hiệp thông, trong toàn mãn. Nhà thờ, bàn tiệc thánh ở Việt Nam chưa đến lúc rơi vào bi kịch độc diễn, vắng ngắt như lời ca cẩm của một số người về từ phương Tây đâu. Có chăng, chỉ là dự báo phòng xa trên bàn tròn thời sự của các nhà thần học. Nói như thế, không có nghĩa là thụ động, máy móc, khô khan.

Có thể nghe, nhìn và cảm nghiệm rất rõ sự dụng tâm, dụng ý để cộng đoàn được chủ động tham gia tích cực vào từng phần việc : cùng đi với đoàn đồng tế, cùng tôn vinh (Vinh Danh), tuyên xưng đức tin (Tin Kính), cùng đối đáp lời kinh tiếng hát (đáp ca) bằng cung giọng làn điệu trầm bổng của tiếng Việt, nhạc Việt, đàn Việt. Người dự lễ như đọc được tên mình, soi thấy khuôn mặt mình, nghe được nỗi lòng thầm kín của mình trong những bài thánh thư bằng cung giọng ba miền đất nước, cũng như bằng ngôn ngữ sắc màu dân tộc anh em : Giarai, Bru, Bana, Kơho, Stiêng, Khmer ... ; và càng thấm thía hơn khi để hồn mình tan loãng trong hư vô tịch mịch của tiếng trống làng, của ngân nga chiêng bản. Nó trầm lắng, mộc mạc đất đai mùa vụ hơn chuông chùm leng keng. Phảng phất toả bay trước tôn nhan làn khói hương từ đỉnh trầm Phường Ðúc, có cái gì hoà quyện, gần gũi hơn bình hương, xông hương.

Không chỉ thánh lễ được diễn ra trong bầu không khí hiệp thông thiêng liêng ấy, mà La Vang còn có những giờ khắc riêng tư thân mật, tuỳ theo độ tuổi, tâm tính, điều kiện của mỗi giới, mỗi đoàn thể, mỗi người, để ai nấy có thể nhìn lại mình (sám hối) chiêm niệm tỏ bày (chầu tạ), giải thoát (xưng tội), nguyện cầu (lần hạt Mân Côi). Những chuyển mục mang tính "bản lề" này, trong thực tế, vừa đóng vai trò giải nhiệt, thư giãn, lại vừa đáp ứng được thói quen đạo đức cá biệt của những người chưa thấy mặn mòi với sinh hoạt tập thể, không mấy ưa thích sự ồn ào của đám đông. Dù khó tính đến đâu, người ta vẫn có thể yên tâm rằng, đến La Vang là đã "đi lễ", đã "xem lễ", đã "dâng lễ", một thánh lễ trọng thể nhất, một phiên chầu lượt sốt sắng nhất trong đời. Tóm lại, về mặt phụng vụ, khách hành hương đã cảm thấy thoả trí, thoả lòng, thoả dạ, vì chính mình được kinh qua, được mời gọi dự phần vào bàn tiệc thịnh soạn nhất, tập trung nhất. Thiết tưởng, huyết mạch và cốt tuỷ của buổi lễ, của phụng vụ không phải điều gì khác hơn là sự no thoả ơn phúc thần thiêng.

Nếu La Vang chỉ có thế, nghĩa là chỉ thuần lễ lạy, chầu chực, kinh hạt thôi thì không có gì để nói, để kể, để thương, để nhớ. La Vang trong hồn người ra về, hôm nay, ngày mai, và mãi mãi sẽ là ít nhiều dấu ấn vương vấn khác nhau còn đọng lại. Ơn phần hồn, ơn phần xác chỉ là cái lẽ "cầu thiêng, kiêng lành". Cái lẽ sâu xa, tiềm tàng hơn, phải chăng là nguồn cảm xúc, cảm nhận dạt dào khi nghe nhìn, khi hoà nhập vào dòng chảy của những nghi thức được cử hành, của những loại hình nghệ thuật biểu cảm, diễn đạt mang tình tự dân tộc. Ðơn giản là cái lễ hội hè. Ðơn giản là "một lễ xa bằng ba lễ gần". Sức hút của lễ hội là thế. Rất vô tư, lặng lẽ và bất thành văn. Cụ thể là, lễ hội đáp ứng thoả thuê cái nguyện vọng cộng sinh với quá khứ, mà khả năng hồi suy, khả năng ký ức chỉ có ở con người, đẩy con người lên bậc thang cao quý hơn các sinh vật khác.

Xưa nay, hạnh tích Mẹ hiện ra ở miền đất khổ Dinh Cát này mới chỉ được viết, được đọc, được nghe. Nhờ màn trình bày công phu của Tỉnh Dòng Thánh Phaolô Ðà Nẵng, một khoảnh khắc bi tráng của lịch sử 200 năm La Vang đã được tái hiện. Câu chuyện ngụ ngôn "mười cô trinh nữ" vẫn chỉ là dụ ngôn, nếu nó không được sân khấu dân gian hoá bằng trang phục, sắc màu ; phụ đệm với chất giọng ngọt ngào đến trữ tình của dân ca quan họ Bắc Ninh. Ðêm "diễn nguyện - canh thức bên Mẹ" có lúc đã oà vỡ, không cầm lòng được khỏi rưng rưng trước tiếng nức nở thống thiết đến xé ruột xé gan của nàng Madalena- gốc-Giarai ngồi chết lặng dưới chân thập tự. Khối lượng khổng lồ con người hiện sinh kia lẽ nào không cởi mở, không sung sướng, không lặng đi khi ngước nhìn lên ngọn cờ no gió của xứ sở mình đang vẫy gọi, khi tình cờ gặp đồng đội đồng hương giữa chốn ba quân, khi chen lấn để sáp lại gần, kiễng chân cao hơn như anh chàng Giakêu để nhìn rõ các đấng bậc chủ chăn. Họ đã có mắt được nhìn, có tai được nghe, có lòng được cảm trọn vẹn những biến tấu, những chương đoạn cực kỳ sinh động của từng tiết mục tham gia hội diễn. Nỗ lực tự vuọt qua chính mình của dàn nhạc cụ dân tộc Phường Ðúc. Những xen cảnh vũ dâng lễ mang dáng dấp nhã nhạc cung đình Huế. Một đại ban hợp xướng, quy tụ cả ngàn giọng ca vàng của Trùng Dương, Vượt Qua, Cecilia sông Hương, Nữ Tu, Ðệ tử Dòng Chúa Cứu Thế. Thôi thúc mọi người mau chân đến với lễ hội, có âm thanh nào hơn được tiếng trống, tiếng kèn đồng Nam Ðịnh, tiếng cồng chiêng Tây Nguyên, trống cà rùng Hà Úc, Mỹ Chánh ? Chỉ thiếu một phường trắc Thái Bình, Bùi Chu, Hải Phòng, Xuân Lộc.

Sẽ là thiếu sót, nếu không ghi nhận sự thành công của những màn vũ đậm đà ý nghĩa, sắc màu dân tộc : Ðoá Hồng Dâng Mẹ, Hội Trùng Dương, Về Bên Mẹ, Dân Vũ Bru, Thả Diều, Panô Năm Thánh 2000. Múa, thứ ngôn ngữ của tâm hồn phát sinh ra trong lễ hội đã là những thời khắc tách ra khỏi hệ luỵ bình thường để hội nhập trở lại với thế giới vĩnh cửu. Tất cả, vâng, tất cả tiếng trúc ty, kim mộc thuỷ hoả thổ của người, của đời, của trời, của đất cùng cất lên khúc Magnificat tạ ơn Chúa Trời.

Phải nghiêng mình cám ơn một đội ngũ ban ngành chuyên trách với một khối lượng công việc ngập đầu, chồng chéo, thiên nan vạn nan. Nếu không vâng phục, nhiệt tình, nếu không ra sức khắc phục và xuất sắc hoàn thành, làm sao lễ hội đạt thập phần mỹ mãn ? Nào thánh giá đèn chầu, tán lọng, bàn kiệu, xe hoa. Nào nón chằm Phủ Cam, quạt xoè, dù nến An Vân, Gia Hội, Kim Long, A Lưới. Nào đoàn lễ tân duyên dáng, hướng đạo chỉnh tề, thiên thần, lễ sinh hồn hậu. Nào nam nữ tu sĩ, chủng sinh, linh mục sốt sắng, nghiêm trang. Nào chức việc hàng xứ, giới trẻ, bà mẹ gia đình tươm tất. Nào lớp lớp hàng hàng cộng đoàn tứ xứ thập phương nối đuôi nhau, trật tư kỷ cương, dõi trông lên lễ đài Trời Mới Ðất Mới, vây kín xung quanh linh đài Mẹ rực rỡ hoa đăng. Chật chội, nắng gió, thiếu thốn, ... có nghĩa là gì khi họ được mời gọi đóng góp công sức vào sự nghiệp chung của giáo phận, Giáo Hội.

Ðây sẽ là những câu trả lời hùng hồn nhất cho những ai vẫn có định kiến rằng, hình thức lễ hội chẳng có một tý giá trị tinh thần nào, rằng ký ức văn hoá đã lỗi thời, lạc hậu, và, rằng chuyện sùng kính Ðức Mẹ, Ðức Mẹ La Vang, chỉ là "chuyện nhỏ" của đàn bà, con nít, của đám bình dân chưa ngộ đạo, đắc đạo. Và sẽ còn thiếu sót nghiêm trọng, nếu không đánh giá đúng mức những cống hiến to lớn trong việc "quy mô hoá, hiện đại hoá, tiêu chuẩn hoá" của bộ phận âm thanh kỹ thuật ánh sáng. La Vang đâu phải là nơi chốn để quảng cáo đặng chiếm lĩnh thị phần. La Vang không mua vào bán ra một mặt hàng nào, ngoài sự nhạy cảm của đồng bào nghèo chào mời những nắm lá vằng khô hái trong rừng, gọi là chút "lộc thánh, thuốc tiên" đem về chữa bệnh. Vâng, những người anh em của công ty Nguyễn Hoàng (90% không cùng tôn giáo, đã chấp nhận đến đường tơ kẻ tóc cái kỷ luật, sinh hoạt và lễ nghĩa ứng xử), qua nhạc sĩ Nam Hải, đã trường kỳ mai phục, quen mặt biết tên như là bà con với Huế - La Vang. Họ đã "to gan" chuyên chở hàng tấn máy móc thiết bị phụ tùng trên những chuyến container xuyên Việt thật gian nan để phục vụ 3 ngày đại lễ trôi vèo. Phải đặt mình vào tình huống ấy mới thấy đây là "chuyến đi bão táp", bão táp trên từng cây số. Mọi người đã đến, đã nghe và đã thấy một La Vang đất Mẹ bề thế, chói ngời ; một La Vang chững chạc, hiện đại ; một La Vang ở một tầng bậc tầm cỡ vượt ra ngoài biên giới của một địa phương. Hình ảnh và ý nghĩa một "Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc" bắt đầu từ năm 1961, nay lại khơi mở, đặt toàn thể Giáo Hội Công Giáo trước một hành trình mới, một mời gọi mới.

Tóm lại, qua cơ sở văn hoá vật thể là không gian, cảnh quan, cùng các hạng mục công trình (nhà nguyện, nhà khách, bến bãi, di tích cổ tháp, lễ đài, linh đài, đường kiệu, quảng trường, lều trại, tượng ảnh, huy hiệu, biểu tượng, kỷ vật, sân vườn ...) đặc biệt thông qua các loại hình nghệ thuật chuyển tải như kinh sách, nghi thức, âm nhạc, vũ đạo, thi ca, điêu khắc, hội hoạ, mỹ nghệ truyền thống, sân khấu, La Vang đã tập hợp được những thành tố cơ bản nhất : nhân tài vật lực, thiên thời địa lợi nhân hoà. Ðã phác thảo được một dáng vẻ hình hài. Ðã thác ngụ, đã gửi gấm được một tiếng nói đồng cảm. Ðã nói lên được một tâm tình hiếu hạnh, một đức tin lòng đạo bằng một văn hoá lễ hội ít nhiều bản sắc dân tộc. Tất nhiên, những gì mà La Vang đã hội tụ, đã triển khai, đã vận dụng sáng tạo và đã hình thành chỉ là công đoạn mang tính thể nghiệm bước đầu trong một nỗ lực chung, nhằm diễn tả đức tin bằng những gì mình sẵn có trong nền văn hoá bản địa, như chỉ dẫn của HÐGM Việt Nam năm 1980, như hướng mở từ THÐGM Á Châu 1998. Nỗ lực ấy cũng được diễn tả ra trong tình hình mà hội nhập văn hoá còn là một khái niệm, một thứ ánh sáng mới chỉ le lói ở bên kia đường hầm. Chắc chắn có nhiều hạn chế thiếu sót. Chắc chắn có nhiều vấn đề cần được soi sáng, cập nhật hoá, chính thống hoá, nếu muốn định hình cụ thể, nếu muốn chắp cánh cho ước mơ kia được sớm trở thành hiện thực.

Xin mượn lời phát biểu cảm tưởng của đức giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hoà, đệ nhị Phó Chủ Tịch HÐGMVN, trong nghi thức bế mạc, để kết luận : "Lễ hội La Vang đã cho chúng ta cái cảm nhận được đi suốt một dòng chảy đức tin-văn hoá mà ai nấy thảy đều sốt sắng, thoả lòng ..."

Ðến Huế, để nghe :

"Con sông dùng dằng, con sông không chảy,

Sông chảy vào lòng, nên Huế rất sâu".

Và ở La Vang, nơi gặp gỡ của những dòng sông.

La Vang, những ngày đại lễ tháng 8-1999

F.A. Lê Ðình Bảng


This website is best viewed with Internet Explorer 5.50 or above. If your browser does not display
Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows
Last updated: Mar 01, 2008
webmaster@lavangparish.org