|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() ![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
Lm. Ðỗ Quang Chính, S.J. Bài được sưu tầm từ CD VietCatholic Nhìn lại sinh hoạt Họ Nhà Thờ Việt Nam xưa để làm gì ? Mục đích bài này là nêu lên một số sinh hoạt của các Họ Nhà Thờ Việt Nam, từ đầu thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, nhất là thế kỷ 19, để qua đó người ta có thể nhận ra rằng : sức sống của các Họ Nhà Thờ Việt Nam ngày nay là một thứ được phát triển tiếp nôùi từ các Họ Nhà Thờ Việt Nam thời xưa. Những sự kiện chúng tôi nêu lên không phải xảy ra đều khắp nơi ở mọi Họ Nhà Thờ, nhưng có thể là trong một số họ nào đó và có tính cách tiêu biểu cho một miền hay một vùng rộng lớn. Phong cách sinh hoạt Họ Nhà Thờ xưa, nhiều ít được xuất hiện trong khung cảnh nếp sống văn minh Việt Nam, cụ thể là văn minh xã thôn Việt Nam xưa, làm cho một Họ Nhà Thờ Việt Nam khác nhiều với loại cơ cấu tương tự ở châu Âu . Từ ngữ Họ Nhà Thờ mà chúng tôi dùng ở đây không hoàn toàn theo nghĩa từ ngữ paraecia trong Giáo Luật 1917, điều 216 và Giáo Luật 1983, điều 515, 518. Bởi vì chúng tôi chỉ muốn nhắc tới sinh hoạt tôn giáo của một số người Công Giáo có tổ chức, quy tụ theo địa dư, mà Nhà Thờ là trung tâm của Họ, dầu nơi đó có Cha Sở hay không. Cũng xin ghi nhận rằng chúng tôi không dùng từ ngữ xứ , xứ đạo, giáo xứ, giáo sở, mà dùng từ ngữ Họ : Họ Nhà Thờ. Vì cụm từ này thời xưa xem ra phổ biến hơn ; còn các từ ngữ như Giáo Xứ, Giáo Sở, ... là những tên gọi mới được dùng mấy chục năm gần đây, và trong ngôn ngữ phổ thông Công Giáo ngày nay của người miền Nam vẫn chưa thấy thông dụng bằng từ ngữ Họ. Ðàng khác, để cho đúng với lịch sử từ ngữ Công Giáo thì chỉ nên dùng từ Họ. Nhưng nếu thế, đầu đề bài này sẽ là Họ Việt Nam lại trở thành hàm hồ. Cụ thể chúng tôi xin dùng từ Họ và đôi khi Họ Nhà Thờ cho rõ hơn. Ngoài ra trong bài này, danh từ bổn đạo được sử dụng thay cho hai danh từ mới giáo hữu, giáo dân, để thích hợp với thời gian lịch sử hơn. Chúng tôi cũng xin lưu ý bạn đọc : danh từ Ðàng Trong, Ðàng Ngoài được hiểu cho thời gian lịch sử chính trị địa dư Việt Nam từ 1600 đến 1800, phân biệt bằng con sông Gianh ; mà miền Nam kể từ Huế tới Hà Tiên. Vậy trong bài này sẽ đề cập ba điểm sau đây : 1. Việc hình thành họ nhà thờ. 2. Ban chức việc trong họ. 3. Bổn đạo trong họ. I. VIỆC HÌNH THÀNH HỌ NHÀ THỜ Trước khi sơ lược về sự việc hình thành họ nhà thờ ở Việt Nam xưa, chúng tôi muốn bàn đến hai từ ngữ họ, xứ trong khung cảnh Việt Nam. Thiết tưởng làm như thế không phải là vô ích, vì nó giúp người ta phần nào hiểu rõ hơn sinh hoạt của bổn đạo thời ấy. Sau đó, chúng tôi mới chính thức nói đến việc thành hình Họ Nhà Thờ. 1. Hai từ ngữ : họ và xứ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, tiếng Việt Nam là một ; tuy nhiên, kể từ khi nhà Trịnh Nguyễn phân tranh chính thức từ năm 1600, thì Việt Nam lại có hai chính quyền kéo dài đến khi Tây Sơn xuất hiện cứu nước vào cuối thế kỷ 18. Giáo Hội Việt Nam ngay từ đầu cũng bị phân đôi - vì Việt Nam bị phân đôi - chia ra hai địa phận Ðàng Ngoài và Ðàng Trong lấy sông Gianh làm mốc. Tiếng Việt tuy không bị chi phối vì lý do chính trị - trừ một số danh từ hành chính - nhưng bởi nhiều yếu tố như : địa dư, xa cách Bắc Nam, thời tiết, va chạm với văn minh Chăm, Khờ Me v.v... , nên có một số từ khác biệt nhau, như : vào / vô ; cảnh / kiểng ; lợn / heo, v.v... hay cả âm vị / b / ở miền Nam, mà miền Bắc không còn. Do đó, chúng ta thấy trong ngôn ngữ Công Giáo Việt Nam cũng có hai từ họ, xứ, nhưng biểu thị cùng một nội dung, giống như xứ đạo, giáo xứ, giáo sở. a. Từ ngữ Họ Ở Ðàng Trong dùng từ họ thay vì xứ, như Họ Gò Thị, Họ An Chỉ, Họ Lái Thiêu, v.v... mà không được thêm từ đạo theo sau, vì từ ngữ họ đạo lại có nghĩa là : Societas eorum qui efferunt cadavera (Hội những người khiêng xác chết) như từ điển của Taberd xuất bản năm 1838 đã giải nghĩa(1) . Sau này trong các sách của Trương Vĩnh Ký còn ghi nhận rõ hơn, từ họ dùng cho ở miền Nam, còn từ xứ dùng cho ở miền Bắc(2). Thật ra ở miền Bắc có dùng từ kép Họ Ðạo, như Theurel giải thích trong từ điển của ngài năm 1877 là christianitas(3) nhưng thường gọi tắt Họ như Họ Triệu Phúc và khi đó đồng nghĩa với Phần Sở ở miền Nam xưa. Từ Họ theo nguyên ngữ có nghĩa là gia đình, họ hàng thân thích, và nếu hiểu rộng hơn cũng chỉ các hiệp hội, hội đoàn, phường, có cùng một chí hướng, ví dụ : Vào Họ dòng Phanxicô. Cần hiểu rằng, từ Họ nói lên một sự ràng buộc chặt chẽ với nhau giữa những người cùng chung huyết thống, dòng họ, chứ không như parenté, lien de parenté của Pháp. Vì ở Việt Nam mối dây họ hàng được nối kết chặt chẽ bằng việc tôn kính tổ tiên. Ngoài ra, những người trong họ còn liên hệ với nhau bằng của cải, nhất là những thứ như hương hoả chẳng hạn. Vậy khi ông cha ta sử dụng từ Họ là muốn làm nổi bật sự liên kết chặt chẽ giữa các bổn đạo trong Họ, chứ không lỏng lẻo như ở châu Âu. Vì ở đó có thể nói được những cá nhân liên hệ với nhau bằng việc duy nhất là họp nhau tham dự kinh lễ tại Nhà Thờ trong những ngày giờ nhất định. Trái lại, ở Việt Nam các bổn đạo trong Họ còn liên kết với nhau bằng nhiều cách, trong nhiều tổ chức, sinh hoạt, không phải chỉ tới Nhà Thờ tham dự kinh lễ mà thôi. Vì thế Họ là một cơ sở hay nói đúng hơn là một cơ thể thực sự vững mạnh và sống động, mà chính L. Cadière cũng phải nhận xét như thế (1). Do đó người ta mới nhận ra được nó là một trong những nguyên nhân tác thành sự sinh hoạt tôn giáo cao độ của bổn đạo Việt Nam, chẳng những khác với nhiều tập thể tôn giáo chung quanh, mà khác cả với các cơ cấu tương đương ở châu Âu. b. Từ ngữ Xứ Ở Ðàng Ngoài hay miền Bắc dùng từ ngữ Xứ thay vì Họ ở miền Nam. Còn khi miền Bắc dùng từ ngữ Họ lẻ, giống như Phần Sở ở miền Nam. Dưới đây là mấy dẫn chứng của thế kỷ 19 : - Danh từ Xứ ở Bắc : "Từ này về sau ở xứ nào có kẻ toan lấy nhau thì thầy cả Parocô xứ ấy phải rao tên kẻ ấy ba ngày lễ lạy liền trong nhà thờ khi làm lễ trọng" (2). - Danh từ Họ ở Bắc: "Phải rao [tên kẻ toan lấy nhau] trong nhà thờ khi làm lễ. Hoặc xứ ấy có nhiều nhà thờ, thì người phải rao trong nhà thờ trị sở hay là nhà thờ họ khác khi người làm lễ mà có bổn đạo trong xứ đến xem lễ đấy" (3) . Từ ngữ Xứ, đầu tiên có nghĩa như một Tỉnh ngày nay hay một miền hành chánh rộng lớn vào thế kỷ 17 -18 ở Ðàng Ngoài. Ví dụ : Thanh Hoá xứ, Nghệ An xứ, Hải Dương xứ, Sơn Nam xứ v.v... Khi cuộc truyền giáo mới bắt đầu, số Linh mục (Lm) ít oi, nên mỗi Lm coi sóc một Xứ lớn như thế. Trong bức thư của Thầy giảng Bento Thiện gửi cho Lm Marini năm 1659 viết : "Các bổn đạo xứ đôũ thì làõ nhớ Thầï lám một ưác au cho Thàï lại đến nưác nầi một lần nữa"(1) . Khi không có thừa sai thì các Thầy giảng chia nhau đi ở các xứ để coi sóc bổn đạo : "Các Thầï giảng thì giảng ở các xứ Kẻ giảng cũ bậï , Thầï Chico còn ở ấõ mác [...] các bổn đạo cũ ghét chẳng ay cho ăn" (2) . Khi có các Lm Việt Nam thì các vị cũng được bổ nhiệm coi các xứ lớn, như chúng ta thấy vào năm 1673 : Lm. Chiêu ở tại Kẻ Chợ, coi Kinh Bắc xứ và Sơn Tây xứ ; Lm Tri ở tại Kiên Lao, coi xứ Sơn Nam Hạ ; Lm Quế ở tại Vân No, coi Thanh Hoá xứ v.v.... Sau này các Lm đông hơn, nên các ngài ở hẳn từng xứ nhỏ được hiểu theo Xứ ngày nay, và trong Xứ có nhiều Họ hay Họ Lẻ thuộc Xứ đó. Ðến đây chúng ta thấy được, danh từ Họ có tính cách xã hôïi, nói lên sự kết hợp chặt chẽ giữa bổn đạo với nhau trong cùng một Họ. Còn danh từ Xứ lại có tính cách địa dư mà thôi và nói lên sự lớn lao về lãnh thổ. 2. Những yếu tố để trở thành Họ Nhà Thờ a. Bổn đạo Yếu tố quan trọng nhất là phải có một số bổn đạo cư ngụ gần nhau dù chỉ tới năm mươi người. Những người này hoặc là mới tòng giáo, hoặc là bổn đạo cũ đến sinh sống ở một nơi nào đó. Sinh hoạt tôn giáo tại chỗ của họ lúc ấy mới chỉ có tính cách gia đình hoặc liên gia. b. Nhà Thờ Khi bổn đạo đã có điều kiện vật chất khá và đã có sự quen biết nhau nhiều, thì họ đi vận động cất một Nhà Thờ đơn sơ, để làm nơi đọc kinh chung, và nếu thuận tiện có Lm đến dâng thánh Lễ dịp lễ trọng. Nhà Thờ giữ một địa vị quan trọng, dù là nhỏ bé. Nếu xã có ngôi Ðình là trung tâm sinh hoạt xã thì bổn đạo coi Nhà Thờ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, một thứ sinh hoạt thường xuyên của bổn đạo và nó gắn bó các gia đình Công Giáo với nhau chặt chẽ nhiều hơn là ngôi Ðình gắn bó dân chúng trong làng xã. Các sinh hoạt tôn giáo trong Nhà Thờ hay ngoài Nhà Thờ, dần dần theo thời gian được bổn đạo thích nghi với một số phong tục, nghi lễ dân gian và Ðình Làng, như cờ quạt, lỗ bộ, chiêng trống, tàn lọng, rước kiệu, hát chèo, hát cô đầu (thời xưa không xấu) v.v... Như chúng tôi đã viết ở trên, bất kỳ nơi nào quy tụ một số bổn đạo có những sinh hoạt tôn giáo mà Nhà Thờ là trung tâm, thì chúng tôi tạm gọi là Họ Nhà Thờ. Loại Họ như vậy có trước hết ở Ðàng Trong là Cửa Hàn vào năm 1615 khi hai Lm Francesco Buzomi, Diogo Carvalho, và trợ sĩ António Dias đến đây truyền giáo. Vào dịp Lễ Phục Sinh năm đó, các ông đã rửa tội được 10 người và cũng làm một ngôi nhà thờ nhỏ bé(1). Còn ở Ðàng Ngoài vào tháng 3-1627 khi hai Lm Pedro Marques và Alexandre de Rhodes đến Cửa Bạng (Thanh Hoá), sau hai tuần lễ các ông đã rửa tội cho 32 người ; tuy nhiên ngay năm đó chưa làm nhà thờ, vì hai Lm phải đi gặp Chúa Trịnh Tráng(2). Dầu vậy bổn đạo ở cửa Bạng vẫn hãnh diện là nơi hạt giống Tin Mừng được gieo rắc chính thức đầu tiên ở Ðàng Ngoài, nên họ có câu ca dao: "Thứ nhất Toà Thánh Rôma, thứ nhì cửa Bạng, thứ ba Thần Phù". Nhưng khi hai Lm tạm trú ở An Vực (cách tỉnh lỵ Thanh Hoá chừng 5 cây số về phía Bắc), thì hai vị rửa tội thêm một số người, trong đó có một nhà Sư đã 85 tuổi mang thánh hiệu Joakim. Chính vị Sư này đã hiến một khu đất và bỏ tiền của để làm một ngôi nhà thờ đầu tiên ở đây, được khánh thành ngày 3-5-1627 (3) . Ðó là ngôi nhà thờ đầu tiên ở Ðàng Ngoài, không kể ngôi nhà nguyện của Công chúa Mai Hoa vào cuối thế kỷ 16. Cứ thế các nhà thờ được dựng lên ở Ðàng Trong và Ðàng Ngoài vào đầu thế kỷ 17. Ở Ðàng Trong : Hải Phố (Hội An) Nước Mặn (gần Gò Thị) Thanh Chiêm (thủ phủ Quảng Nam dinh), chợ Mới, Bầu Gốc (Quảng Ngãi) v.v ... Ở Ðàng Ngoài : Kẻ Chợ (1) , Ðống Mác, Thần Phù (Hảo Nho) Cao Mại, Kiên Lao, Lục Thuỷ, Trung Linh, Trà Lũ, Bùi Chu v.v... Tới thời gian nào đó, khi một nhà thờ hội đủ điều kiện và tùy vào số Lm nhiều ít mà có Lm về trị sở. 3. Họ có linh mục Nhiều nơi có nhà thờ, nhưng không phải là mọi nhà thờ đều có Lm trị sở, vì ít Lm, hơn nữa gặp nhiều khó khăn ... Có lúc toàn Ðàng Trong không có Lm nào như cuối năm 1639, hay ở Ðàng Ngoài cuối năm 1630. Những báo cáo truyền giáo thời đó gọi nơi nào có Lm thường trú bằng danh từ residentia mà thôi, ít khi có từ christianitas, càng không dùng từ paraecia. Vì ít Lm, cho nên đến cuối thế kỷ 18 Ðàng Trong khó mà thành lập được những Họ chính thức. Ví dụ năm 1792 Ðức Cha Bá Ða Lộc đã báo cáo sang Thánh Bộ Truyền giáo là : Ở Ðàng Trong rải rác có tới 60.000 bổn đạo, nhưng chỉ có 11 Lm, trong số này có 3 Lm VN, 3 Lm dòng Phanxicô và 5 Lm Hội Thừa Sai Paris(2) . Còn các Họ theo nghĩa chung chung thì ngay năm 1700 Ðàng Trong đã có 153 Họ (3) , đến năm 1755 Ðàng Trong có 225 Họ với khoảng 22.370 bổn đạo(1) , quân bình mỗi Họ có khoảng 100 bổn đạo. Dĩ nhiên cũng có nơi quy tụ đông bổn đạo như Thợ Ðúc, Gò Thị, Chợ Mới, Hà Tiên, Lái Thiêu, Chợ Quán, Cái Mơn, Cái Nhum (2) v.v... Cùng thời gian đó, ở Ðàng Ngoài nhiều nơi quy tụ bổn đạo đông hơn như ở Ðống Mác, Kiên Lao, Cao Mại, Bắc Trạch, Cửa Rum v.v.... Thật ra đến giữa thế kỷ 19, toàn cõi VN và cả Cam Bốt mới có 3 địa phận, 134 Lm, trong số này có 15 Lm ngoại quốc, phục vụ 310.000 bổn đạo(3) . Như thế ngoại trừ một số Lm quá già yếu hoặc lo những công chuyện chung như ở Toà Giám Mục, Chủng Viện, số Lm trị sở có lẽ chỉ còn dưới 100 vị. Ðàng khác nhiều nhà thờ và bổn đạo ở nơi hẻo lánh, đường giao thông trong nước rất ít, nên các Lm liên lạc với bổn đạo cũng chẳng dễ dàng gì. Bổn đạo phải tự động tổ chức đọc kinh, dạy giáo lý và các sinh hoạt bên lề tôn giáo. Trong thực tế, nơi nào có Lm thường trú thì đó là Họ chính. Vào cuối thế kỷ 18 ở điạ phận Ðông Ðàng Ngoài, có những nơi đã được phân chia thành Họ (Xứ) rõ rệt. Do đó Lm Philiphê Bỉnh mới nhắc tới việc ngày Tết, nhằm vào ngày kiêng thịt, nhưng tại một Xứ thì Cha Xứ cho phép ăn thịt, rồi kiêng bù sau, còn Xứ bên cạnh thì cách Xứ kia bằng con sông, lại bị Cha Xứ mình cấm ; vì thế, bổn đạo chèo thuyền sang bên kia sông mà ăn Tết (1) . Ðể có thể nuôi dưỡng Cha Xứ, Ðức Giám Mục địa phận buộc bổn đạo nơi đó phải để ra một ít ruộng cho Cha Xứ, dù là công điền hay tư điền (2) . Việc đóng góp như thế là cụ thể nhất đối với nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam xưa, vì thời đó mọi nhu cầu vật chất đều căn cứ trên thóc gạo. Thương mại lúc ấy chỉ là thứ tiểu thương, buôn thúng bán mẹt, chứ không có đại thương như các nước châu Âu đồng thời. Vào cuối thế kỷ 19, dầu trải qua những cơn sóng gió kinh khủng, Giáo Hội Việt Nam đã có nhiều Lm, nhiều Họ chính, Họ lẻ. Dưới đây chúng ta có thể dựa vào bản đồ các Họ (Xứ) thuộc những địa phận Hội Thừa Sai Paris, in năm 1890 (3) :
Riêng ba địa phận Dòng, chúng tôi chưa tìm được bản thống kê năm 1890. Vậy chúng tôi tạm dùng bản thống kê năm 1904 (1), ghi lại sĩ số các Lm và các nhà thờ thuộc mỗi địa phận dầu biết rằng sĩ số Nhà thờ có thể tăng tới 30% sánh với năm 1890:
Những con số trên đây tuy được trích ra từ các sách xuất bản, nhưng không hẳn là đã chính xác, mà cũng chỉ nên coi như một sự ước lượng, vì nhiều con số do các tác giả đưa ra quá chênh lệch(1) . II. BAN CHỨC VIỆC TRONG HỌ Nếu một làng xã ở Việt Nam trước đây đã kết hợp dân chúng lại dựa trên nguyên tắc hợp đoàn và trên tình liên đới, thì một Họ Nhà Thờ thời ấy cũng thế. Muốn thực thi nguyên tắc và tình cảm đó, nhất thiết phải có một tổ chức tối thiểu. Nói cách tổng quát các Họ Nhà Thờ về mặt tổ chức và sinh hoạt cũng đi song song với làng xã, mặc dầu hình thức, nội dung, thể cách và mục đích khác nhau. Chức việc trong Họ được chính thức thành lập từ thế kỷ 17, nhưng chỉ là để giúp bổn đạo về phương diện tôn giáo thuần túy. Bởi thời xưa quá ít Lm, hơn nữa số Thầy Giảng, Kẻ Giảng cũng chẳng thấm tháp vào đâu. Do đó, Công Nghị Hải Phố (Hội An) năm 1672, dưới quyền chủ toạ của Ðức Giám Mục La Motte, quy tụ 10 Lm (trong đó có 4 Lm Việt Nam, 6 Lm Hội Thừa Sai Paris) và 80 Thầy Giảng, Kẻ Giảng, đã quy định ở điều 4 là : Nơi nào có nhiều bổn đạo, mà không có Lm hoặc Thầy Giảng, Kẻ Giảng thì phải chọn một người khôn ngoan, đức hạnh để viếng thăm kẻ liệt lào, rửa tội cho trẻ thơ hoặc những người gần sinh thì, và phải gửi tên người đó về cho Giám Mục hoặc Bề Trên địa phận v.v... (1) . Thời đó và trước đấy 50 năm, đã thấy dùng danh từ Ontrũ : Ông Trùm, để gọi một bổn đạo giữ chức vụ trên (2). Nhưng dần dần trong Họ có Cha Sở, Thầy Giảng, thì Ban Chức Việc Họ gồm nhiều người hơn. Có thể nói, Ban Chức Việc Họ lúc đó là trung gian giữa Cha Sở và bổn đạo, đồng thời làm thành Hội Ðồng Họ để góp ý kiến với Cha Sở và phân chia trách nhiệm trong Họ. Dưới đây chúng tôi xin sơ lược thành phần hoạt động của Ban Chức Việc Ðàng Trong mà không cần nhắc tới Ðàng Ngoài; vì ngoại trừ một số danh chức của Ðàng Ngoài có khác, như Ông Quản, Ông Bạ v.v..., còn tinh thần và hoạt động thì cũng không khác với Ðàng Trong. 1. Thành phần Ban Chức Việc ở địa phận Tây Ðàng Trong Vào cuối thế kỷ 19, Ban Chức Việc (Ban Quới Chức) ở địa phận Tây Ðàng Trong (Sài Gòn, Xuân Lộc, Phú Cường, Mỹ Tho, Vĩnh Long) thường gồm một số chức việc chính sau đây : - Ông Trùm Nhứt : Ðứng đầu một Họ chính, tức là nơi có Cha Sở. - Ông Trùm Nhì : Ðứng đầu một Phần Sở, tức Họ lẻ bây giờ, nơi không có Cha Sở ; cũng có thể là giúp ông Trùm Nhứt của họ có Cha Sở. Nên nhớ rằng, trong xã hội Việt Nam, ngay từ thế kỷ 17 đã thấy chức ông Trùm là người có uy tín, giàu sang trong một Phủ, Huyện hay là vị lớn nhất trong làng. - Ông Câu : một người có chức vụ trong Họ ở cấp bậc sau ông Trùm Nhứt và ông Trùm Nhì. Ðôi khi cũng gọi là Câu Kê. Thật ra Câu kê là chức quan lo về sổ sách tài chính ở Ðàng Trong được thiết lập từ thế kỷ 17 ; có Câu Kê ở trung ương, thì cũng có Câu Kê ở các Dinh và Phủ, Huyện. Trong Họ cũng còn gọi vị này là Câu Ðương, tức là một chức cũng có ở Phủ, Huyện, Xã, để đốc xuất các công việc. Nếu phụ trách dạy giáo lý cho trẻ em thì gọi là Câu Ðồng Nhi. - Ông Biện : Ông Biện có địa vị và trách nhiệm sau ông Câu, lo về hành chính trong Ban Chức Việc Họ. Biện, có nghĩa là thư ký. Ông Biện việc giữ sổ sách giấy tờ trong Họ. Ông Biện đồng nhi phụ trách các em giúp lễ. - Ông Giáp : Người có chức thấp nhất trong Ban Chức Việc(1). Thành phần Ban Chức Việc trên đây tại một số Họ vẫn đang còn cho đến ngày nay. Ngoài thành phần Ban Chức Việc trong Họ, còn có ông Trương Chánh và ông Trương Phó đứng đầu các ông Trùm ở địa phận Tây Ðàng Trong. Hai vị này không có quyền hành thực sự trên các Ban Chức Việc Họ, nhưng mỗi lần các Ban Chức Việc Họ trong địa phận muốn chúc mừng Ðức Giám Mục hay Bề trên địa phận chẳng hạn, thì hai vị này đứng ra lo công việc ấy. Thường thường hai vị này cũng kiêm luôn chức Trùm Nhứt và Trùm Nhì Họ Nhà Thờ nào lớn nhất . 2. Hoạt động của Ban Chức Việc trong Họ Bổn đạo trong Họ có sốt sắng, đoàn kết yêu thương nhau, một phần cũng nhờ hoạt động của Ban Chức Việc, nhất là khi không có Lm. Ban Chức Việc không phải chỉ là cánh tay mặt của Cha Sở về sinh hoạt bên lề tôn giáo mà thôi, nhưng còn trực tiếp lo về tôn giáo, như dạy giáo lý, khuyên bảo những người "khô đạo" ăn năn hối cải, tìm cách truyền bá Lời Chúa cho những người chưa gia nhập Giáo Hội ; hơn nữa, còn làm cả bí tích Rửa Tội hay chứng hôn khi thiếu Lm. Ở một Họ không có Lm, cũng không có Thầy Giảng thì các vị đó trở thành như một thứ "Cha Phó". Vậy khi không có Lm, chính Ông Trùm là người có trách nhiệm đầu tiên trong việc triệu tập bổn đạo đến nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện (về việc đọc kinh thế nào, chúng tôi sẽ nói sau). Ông Trùm sẽ chủ tọa các buổi đọc kinh, ông cũng có thể uỷ nhiệm cho các ông Câu, ông Biện thay phiên nhau phụ trách. Ông Trùm phải lãnh trách nhiệm báo cáo với Cha Sở các sinh hoạt trong Họ, nếu không có Cha Sở phải báo cáo với Bề Trên địa phận. Nhưng Ban Chức Việc không phải chỉ lo về những việc tôn giáo thuần tuý, mà còn phải lo tới những việc bên lề tôn giáo. Do đó Ông Trùm phải triệu tập Ban Chức Việc để thảo luận mọi việc trong Họ, từ vấn đề tổ chức lễ lạy cho đến việc tu bổ hay xây cất nhà thờ, hoặc việc quyên góp tiền của bổn đạo cho công việc Họ và chăm sóc ruộng vườn của nhà thờ. Cả đến những nố tranh tụng giữa bổn đạo với nhau, Ban Chức Việc cũng tìm mọi cách giải hoà, giống như Hội Ðồng Kỳ Mục làng xã. Tất cả những việc trên phải được báo cáo cho Cha Sở và tuân theo quyết định tối hậu của vị này. Tuy bổn đạo phải tôn trọng Ban Chức Việc, nhưng nếu Ban Chức Việc làm gì không hợp tình hợp lý, có thể phản ánh lên Cha Sở, hoặc Cha Bề Trên địa phận hoặc Giám Mục (1) . Cũng nhờ Ban Chức Việc được tổ chức khắp các Họ trong Giáo Hội Việt Nam xưa, nên dầu vắng Lm, dầu gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn, nhất là vào thế kỷ 19, đức tin của bổn đạo khá vững mạnh. Ðàng khác Ban Chức Việc là những người hoàn toàn sống như mọi bổn đạo, am hiểu tục lệ địa phương, sống chết với Họ Nhà Thờ, nên hiểu biết rõ ràng những gì mình phải làm tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể. Càng thiếu Lm thì tỷ lệ hoạt động của Ban Chức Việc càng cao, có Lm thì bổn đạo lại dựa nhiều vào Lm. III. BỔN ÐẠO TRONG HỌ Lòng sốt sắng của bổn đạo Việt Nam đã có ngay từ khi hạt giống Tin Mừng được gieo ở đây. Như thế không có nghĩa là mọi người đều trung thành với Chúa ; nhưng đa số đều biểu lộ lòng đạo ra bên ngoài bằng việc đọc kinh, lập bàn thờ trong gia đình. Người ta có thể bảo đó là thứ sống đạo hời hợt, tình cảm, nương tựa vào tập thể v.v... Nhưng cũng không thiếu người can đảm chịu chết vì đạo, như vị tuẫn giáo đầu tiên chỉ là một thiếu niên 19 tuổi, tức cậu Anrê Phú Yên tử đạo ngày 26-07-1644 tại Quảng Nam, và sau này con số các tử đạo ước lượng tới 100.000 người. 1. Ðọc kinh chung Thường thường việc cầu nguyện của bổn đạo Việt Nam là đọc kinh chung, nghĩa là về hình thức bề ngoài, thì phải đọc ra tiếng, có tính cách tập thể và có cung giọng theo âm điệu tiếng Việt. Ngay từ đầu thế kỷ 17, chúng ta đã thấy bổn đạo mới, có thói quen đọc kinh gia đình sớm tối, mỗi buổi tới 30 phút, nếu họ không thể đến Nhà Thờ được. Hầu như mọi gia đình đều đọc cùng giờ như nhau, nên ai đi qua một thôn xóm Công Giáo vào buổi tối, đều nghe tiếng cầu kinh vọng ra sau luỹ tre xanh. Các kinh đọc chính là kinh Mân Côi, kinh cầu Ðức Bà, hoặc kinh cầu Trái Tim, kinh Vực Sâu (1). Có người cho rằng thói quen đọc kinh sớm tối này ở Việt Nam là do bổn đạo bắt chước phật tử sốt sáng tụng kinh ở gia đình. Ngay tại thủ đô Thăng Long, lúc ngôi nhà thờ đầu tiên bị Chúa Trịnh Tráng ra lệnh triệt hạ năm 1628 như chúng tôi đã ghi ở trên, hai Lm P. Marques và A.de Rhodes bị quản thúc tại gia, thì anh chị em bổn đạo tự chia ra 6 khu để tập họp đọc kinh trong các tư gia, mặc dầu lúc đó toàn thể Ðàng Ngoài mới có 1414 bổn đạo(1) , Riêng Thăng Long và vùng phụ cận được trên 1.000 sau 10 tháng truyền giáo (từ 7-1627 đến 5-1628 ). Vào các ngày Chúa Nhật và Lễ trọng, bổn đạo họp nhau tại Nhà Thờ đọc kinh, nếu chưa có Nhà Thờ thì họp tại nhà Ông Trùm. Họ chia ra hai bè đối xướng khi có thể. Các kinh quen đọc là kinh Tin, kinh Cậy, kinh Mến, kinh 10 điều răn Ðức Chúa Trời, kinh 6 điều răn Hội Thánh, kinh 7 phép bí tích, kinh 8 Mối Phúc Thật, và phép lần hạt đơn, hoặc lần hạt kép (ban sáng đọc mùa Vui, ban trưa đọc mùa Thương, tối mùa Mừng) và kinh Bản Hỏi v.v... (2) . Một số kinh trên được soạn vào giữa thế kỷ 17 do Lm Maiorica ; riêng kinh Tin, Cậy, Mến, kinh Bản Hỏi và sách Giống Má do Lm Bề Trên Phan (Francisco António, SJ.) soạn(3) . Các ngày thường bổn đạo cũng họp tại nhà thờ đọc kinh : vào buổi sáng, buổi tối do các ông biện việc thay nhau chủ toạ đối với nơi nào không có thầy giảng, kẻ giảng. Chiều tối thứ bảy làm việc kính Ðức Bà trọng thể. 2. Thánh lễ và các Bí tích Trên đây là nói về những nơi không có Lm. Còn nơi nào có Lm dâng Lễ thì bổn đạo từ các làng tuốn đến đó từ chiều thứ bảy, có người đi tới 15 ngày đàng để dự Thánh Lễ như Lm de Rhodes ghi nhận (1). Việc thứ nhất trong chiều thứ bảy là bổn đạo xưng tội nếu họ muốn ; khoảng 8 hoặc 9 giờ tối, họ bắt đầu đọc kinh chung, rồi thầy giảng hay ôâng trùm đọc một đoạn sách. Tiếp đến Lm khảo sát một số người về giáo lý, để sáng mai họ sẽ chịu phép Rửa tội. Những người ở xa thì ngủ lại trong nhà thờ, có đốt đèn cày cho sáng. Khoảng 3 giờ sáng thức dậy đọc kinh, rồi Lm dâng Lễ. Sau đó giải tán. Ðó là cuộc Lễ Chúa Nhật năm 1683 ở Ðàng Trong (2) . Dĩ nhiên, trong Thánh Lễ, ông trùm sẽ đọc bài Tin Mừng và Thánh Thư, ngoài ra các cô học trò còn đọc kinh đối đáp hay ngắm lễ để bổn đạo suy ngắm theo (3) . Những việc này được thực hiện ngay từ giữa thế kỷ 17 ở Ðàng Trong cũng như Ðàng Ngoài và cứ tiếp tục mãi (4) . Hàng năm vào dịp Lm đi làm phúc (tuần đại phúc), thì bổn đạo càng sốt sắng đến lãnh nhận các bí tích, nhất là những khi thiếu Lm mà đông bổn đạo. Nếu cứ dựa vào thống kê của Piolet(1) thì chúng ta thấy Giáo Hội Việt Nam như sau : Số Lm và bổn đạo Ðầu thế kỷ 19 Năm 1850 Năm 1890 - Lm Việt Nam - Lm ngoại quốc - Bổn đạo 119 15 310.000 144 24 420.000 355 218 628.300 Tình hình này khác hẳn với lời Ðức Cha Bá Ða Lộc năm 1799 căn dặn Ðức Cha Phó Labartette trong chúc thư là, 20 Lm VN cho địa phận Ðàng Trong (từ Huế đến Hà Tiên và nước Cam Bốt) là đủ, không cần truyền chức Lm nhiều hơn cho người Việt Nam(2) . Vì ít Lm nên một Lm phải coi sóc nhiều Họ, nhưng nơi thường trú của ông là Họ lớn nhất. Mỗi năm Lm đi làm phúc tại các Họ Lẻ hay Phần Sở ít là 1 lần, mỗi lần từ 3 ngày đến một tuần tuỳ theo nhu cầu bổn đạo. Vì thế quanh năm Lm phải đi làm phúc luôn, nhất là khi các ông có tới 15 - 20 Họ Lẻ cách xa nhau. Ðàng khác Lm cũng phải cố gắng lựa những dịp dân chúng rảnh rỗi, không mắc bận cày cấy, mùa màng v.v.... Như vậy bổn đạo mới có thời gian cấm phòng, xưng tội và cho trẻ em xưng tội rước lễ lần đầu. Việc Lm đi làm phúc là một dịp trọng đại đối với bổn đạo. Khi ông vừa tới thường là đi cáng hay đi ghe thuyền, người ta kéo chuông, đánh trống để bổn đạo theo từng đoàn thể, nam, nữ đến chào ông. Nhiều người rất quý trọng Lm, nên khi một Lm đến thăm một Lm khác, thì người ta cũng kéo chuông báo cho bổn đạo trong Họ biết, hầu đến chào Lm khách. Nơi nào chưa có nhà riêng dành cho Lm thì người ta tiếp ông tại nhà ông trùm hay một nhà nào khá giả. Ông vừa tới là mọi người trong gia đình đó đã rút xuống nhà dưới hết, dành riêng nhà trên cho Lm ngồi trên chiếc phản chính giữa, đã trải chiếu hoa cạp xanh. Dù một Lm ngoại quốc thì cũng phải cố gắng tập ngồi xếp bằng trên phản ; bổn đạo đến chào ông đi đầu là mâm cau, món lễ không thể thiếu được ở Bắc cũng như Nam. Sau khi bổn đạo sấp mình lạy ông ba lạy, họ ngồi xếp bằng trên chiếu trải đất. Rồi các thứ đồ lỡi được bưng tới như gạo, gà vịt, cam, trứng ... toàn là những thứ "cây nhà lá vườn". Khi các bà đến lạy Cụ thì không lạy như các ông, mà ngồi trên chiếu, cúi đầu sát chiếu lạy Lm, theo phong tục Việt Nam đã có từ xa xưa (1) . Sau nghi lễ chào mừng, Lm sẽ họp với Ban Chức Việc để nghe báo cáo cùng thảo luận để có quyết nghị mới. Cuộc họp chẳng có thể giữ kín được, vì người ta, nhất là phụ nữ, vẫn đứng ở ngoài nhòm qua các khe cửa để nhìn và nghe. Trong khi đó bổn đạo dọn mình xưng tội, những ai có tiếng là "khô đạo" sẽ được một số người đạo đức đến khuyên nhủ đi xưng tội. Vào các buổi sáng sớm có Lm tại Họ, thường thường mọi người đi tham dự Thánh Lễ, vì một năm chỉ có ít ngày đặc biệt như thế. Ban ngày, sáng chiều, Nhà Thờ đều đông người, vang lên tiếng kinh nguyện, do các ông Biện thay phiên nhau hướng dẫn. Lm sẽ khảo sát giáo lý các em để quyết định cho xưng tội rước lễ lần đầu (1) . Hết Họ Lẻ này đến Họ Lẻ khác, Lm thật là mệt nhọc, nhưng thấy lòng sốt sắng của bổn đạo, thấy mình được tôn kính chiều chuộng, thấy tình nghĩa cha con được đầy đủ, thì Lm cũng được an ủi. Những loại làng thuỷ cơ (những người sống trong ghe thuyền đánh cá trên sông) cũng tha thiết mong chờ Lm ở với họ mấy ngày, giữa hàng trăm thuyền đánh cá, tập họp về trên một khúc sông để được cha làm phúc. Quả thật bổn đạo rất sốt sắng trong việc lãnh nhận các bí tích, làm cho đời sống trong Họ được vững mạnh và sầm uất hơn. Lm Isidorus Luci, SJ. ở vùng Nghệ An đã kê khai số lần ông làm các bí tích từ năm 1695 - 1703 như sau (2) : Năm Giải tội Cho rước lễ Rửa tội trẻ nhỏ 1695 1696 1697 1698 1699 1700 1701 1702 1703 13.512 7.553 6.318 16.315 13.225 13.114 14.585 14.090 7.797 10.886 5.348 4.484 6.703 9.012 7.936 10.646 10.006 4.379 1.000 531 430 586 705 1.065 1.221 946 818 Ở địa phận Trung Ðàng Ngoài (Bùi Chu, Thái Bình), năm 1857, các Lm cũng đã làm bí tích rất nhiều dù trong hoàn cảnh cấm đạo (1) : - Rửa tội trẻ thơ gia đình Công Giáo 2.189 - Giải tội 122.815 - Cho rước lễ 111.720 - Hôn phối 473 -Thêm sức 635 3. Truyền bá Tin Mừng Bổn đạo Việt Nam không những sốt sắng trong việc chịu các bí tích, mà còn hăng say tham gia vào công cuộc truyền bá Tin Mừng. Tại Cửa Bạng vào năm 1627, một thầy đồ sau khi được A. de Rhodes rửa tội, thánh hiệu là Phêrô, cũng dạy giáo lý cho học trò của ông (1) . Tại Vũ Xá, một ông Từ coi đền ở đó sau khi biết đạo, dạy cho nhiều người khác và ông dẫn họ về Thăng Long cho Lm. Marques, de Rhodes rửa tội, lúc 20, 30, có lúc tới 80 người, dầu Vũ Xá cách Thăng Long tới 20 cây số. Chính de Rhodes đã ca tụng ông này như sau: "Sau khi chịu phép Thánh Tẩy, ông đã trở thành người dạy giáo lý, tông đồ rao giảng và công bố các mầu nhiệm, lay chuyển các lương tâm, chinh phục các linh hồn, và chiến thắng ma quỷ" (2) . Tại Kiên Lao (gần Bùi Chu) vào giữa thế kỷ 17, một người có thánh hiệu là Bênêđitô, được các thừa sai Dòng Tên thời đó như Marini, Rangel, Tissanier hết lòng khen ngợi về lòng hăng say truyền bá Tin Mừng. Tissanier cho rằng nhờ ông mà có ngày rửa tội tới 400 người (3) . Nhờ đó mà năm 1655 Kiên Lao có 1300 bổn đạo (4) , 5 năm sau lên tới 2000 bổn đạo (5) . Vào năm 1669 Kiên Lao đã làm xong ba ngôi nhà liền nhau ghép thành một Nhà Thờ chứa được 3000 bổn đạo (1) . Ở Ðàng Trong, nhiều bổn đạo cũng hăng say không kém Ðàng Ngoài, đặc biệt là Minh Ðức Vương Thái Phi, Ngọc Liên công chúa, ông Cai Duệ v.v... là những tấm gương sáng chói. Chính hai Lm Hội Thừa Sai Paris, Forget và de Brisacier nhận định vào năm 1683 như sau : "Khi một người bổn đạo Ðàng Trong giữ đạo tử tế, thì thường họ sẽ lôi kéo người khác vào đạo [...], nếu người đó lại ăn nói thành thạo , thì chỉ trong ít lâu họ sẽ làm cho một số người khác theo đạo và nơi đó sẽ có một ngôi Nhà Thờ mọc lên" (2) . Chúng tôi chỉ đan cử mấy chứng cớ để thấy bổn đạo Việt Nam xưa hoạt động cho Tin Mừng ngay trong thời kỳ đầu truyền giáo. Phải nhờ đến lòng hăng say của họ cũng như của các Thầy Giảng, Kẻ Giảng, nên dầu mới qua ba năm truyền giáo trong hoàn cảnh khó khăn (1627-1630) mà Ðàng Ngoài có được 5.602 bổn đạo (3) và tới năm 1660 lên đến 300.000 bổn đạo (4) . Bổn đạo trí thức Việt Nam xưa còn làm ca vè để truyền bá Tin Mừng, như thầy Anrê Tri và một công chúa ở Ðàng Ngoài năm 1628, thánh hiệu Catarina. Công chúa này làm ca vè, kể lại cuộc đời Chúa Cứu Thế và thuật chuyện hai Lm Marques, de Rhodes đến Ðàng Ngoài truyền giáo năm 1627, để dân chúng vừa làm việc vừa đọc trong lúc hái dâu, nuôi tằm, giã gạo, đi chợ v.v..., ông sư ở An Vực (gần Thanh Hoá), tên thánh là Joakim, 85 tuổi, năm 1627 đã dịch kinh từ chữ Hán ra tiếng Việt do hai Lm Marques và de Rhodes mang theo(1) . Cùng vào thời kỳ đầu truyền bá Tin Mừng ở VN, một vị Hoà Thượng ở Ðàng Ngoài, nguyên là quan văn, sau khi rửa tội mang tên thánh Phanxicô, liền sống bên cạnh Lm Maiorica. Từ khi theo Maiorica (ở Ðàng Ngoài, từ 1632, qua đời tại Thăng Long, ngày 27-01-1656, thọ 75 tuổi) vị Hoà Thượng trở thành "Thầy già có cou traõ Dào Ð.C.J. trước hết" (2) , (Thầy già có công trong Dòng Ðức Chúa Giêsu trước hết). Vì tất cả các sách Maiorica làm là 48 cuốn bằng chữ Nôm, đều do vị Hoà Thượng này chép ra. Ðặc biệt, Hoà Thượng còn dọn ra kinh Nguyện giỗ có cung sớ : Phục dĩ chí tôn chân Chúa cửu trùng. Vì Kinh này có nội dung sâu sắc, văn chương tuyệt vời, lối dùng điệp ngữ như chém sắt chặt đanh, nên đến nay đã 350 năm rồi, mà có nơi vẫn còn đọc kinh Nguyện giỗù này, dầu đa số không hiểu gì, vì là văn Việt Hán. Vị Hoà Thượng này trước đây tu ở Chùa Thành Phao, là vị Hoà Thượng cao cấp nhất trong số 10 Hoà Thượng ở Ðàng Ngoài hồi đó (3) . Nói qua như thế, không cần nhắc tới thế kỷ gần đây, tưởng cũng đã cho chúng ta một ý niệm về những bổn đạo trí thức tham gia vào việc truyền giáo. 4. Ðoàn thể tôn giáo Muốn cho bổn đạo sốt sắng hơn, có sinh hoạt tôn giáo sâu xa, các thừa sai lập ra nhiều thứ Họ, tức là các đoàn thể có tính cách tôn giáo, phồn thịnh ngày đầu thế kỷ 18. Ðầu thế kỷ 18, các Lm Dòng Phanxicô Tây Ban Nha có khu vực truyền giáo ở Trấn Biên (thời xưa sách Pháp gọi là Basse - Cochinchine) và ở Cam Bốt, thu nhận các bổn đạo sốt sắng, cho gia nhập Họ Dòng Ba Phanxicô và Họ Dây Thánh Phanxicô. Hai Họ này giữ được ảnh hưởng lâu đời ở miền Nam, kéo dài cho tới khi các tu sĩ Phanxicô trở lại miền Nam năm 1950. Tại vùng truyền giáo do các Lm Dòng Tên phụ trách ở Ðàng Trong, mọc lên nhiều thứ Họ : Với nam giới, có Họ Chúa Ba Ngôi ; với nữ giới, có Họ Chết Lành, Họ Ðức Bà. Họ Các Linh Hồn Luyện Tội được nhiều người gia nhập nhất, vì rất hợp với tâm tình người Việt đối với tổ tiên ; bổn đạo vào Họ này, để cầu nguyện cho linh hồn cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Ngoài ra, cha Dòng Tên Lopes, năm 1740 lập Họ Thánh Binh Nhi Ðồng. Mục đích của tổ chức này là tập họp mọi trẻ em trong từng Họ Nhà Thờ vào sinh hoạt theo đoàn thể. Cách tổ chức của Thánh Binh, giống như quân đội : Có Cai Ðội (Ðại tá), Cai Cơ (Thiếu tá), quân binh do các em đảm nhận. Hàng tuần vào ngày thứ bảy, Thánh Binh tập họp trước mặt Chưởng Dinh (Thống tướng) là vị Lm, để chịu khảo sát về giáo lý, báo cáo ưu khuyết điểm của quân binh, đội ngũ, như trốn học, chơi cờ bạc, chửi thề v.v.... Sau đó vị Chưởng Dinh khuyên nhủ thưởng phạt tuỳ công tội. Các em chăn trâu cũng có đoàn thể giống như thế. Khi đi dự Thánh Lễ Chúa Nhật, học giáo lý, tất cả các em tập họp trâu lại, giao cho hai em giữ, còn bao nhiêu vào Nhà Thờ. Cứ thế các em thay phiên nhau giữ trâu vào ngày Chúa Nhật (1) . Thế kỷ 17-18 Ở Ðàng Ngoài cũng như Ðàng Trong, nhất là ở Quảng Bình, Dinh Cát (Quảng Trị), Huế, dân chúng đoàn kết dễ dàng và có thể nói là sống khép kín trong một làng xã với ba cơ cấu làng, gia đình, phường hội. Tuy cái "Tam Bộ" vua - quan - dân đã là nòng cốt cho tổ chức chính trị hành chính của Ðàng Ngoài và Ðàng Trong, nhưng giữa dân làng và vua quan vẫn có một khoảng cách quá xa. Vì vậy, trừ việc thu thuế, lấy dân đi lính hay làm tạp dịch, còn sự quan hệ giữa vua quan với dân có phần lỏng lẻo. Thành ngữ phép vua thua lệ làng, trong làng ngoài nước, trong nhà ngoài ngõ, cho thấy cách sinh hoạt xem ra có phần "độc lập" giữa làng xã với Phủ Huyện ở Ðàng Trong cũng như Ðàng Ngoài. Làng xã trở thành một đơn vị, trong đó những tập tục của làng, làm nên một tổ chức riêng biệt mà "ngoài nước" khó có thể nhìn vào "trong làng" được. Những luỹ tre xanh, những hội hè đình đám cùng những tục lệ của làng, làm cho làng thành một ốc đảo. Tính đoàn kết trong một làng, một gia tộc, một phường hội là một thứ xi măng hàn gắn họ lại rất chặt chẽ. Nói được, ốc đảo làng xã có ba cơ cấu chặt chẽ : đó là làng xét về mặt hành chính, cai trị, có tính cách bó buộc do luật lệ phong tục ; còn các gia đình cư ngụ trong làng được kết cấu với nhau dựa trên tình cảm huyết tộc ; ngoài ra, một cơ cấu khác là phường hội lại làm cho dân làng kết hợp với nhau theo nghề nghiệp, tín ngưỡng, cùng những sinh hoạt văn hoá mà chúng ta có thể gọi đó là hội hè đình đám. Nhưng không phải ngày nào, tuần nào cũng có những thứ sinh hoạt ấy. Bởi vì việc đi chùa lễ Phật vào ngày sóc, vọng, tuy có phổ biến, nhưng không phải là cùng khắp ; việc Lễ Thành Hoàng cúng đình, hoặc những dịp Hội Xuân, Lễ Ðền cũng chẳng phải là thường xuyên. Sinh hoạt hàng ngày trong làng, thường chỉ là thứ sinh hoạt lao động nông nghiệp, sáng tối với tằm tang, với đồng lúa .... Làm gì có cảnh buôn bán nhộn nhịp khắp nơi. Ngoại trừ Hội An, Cửa Hàn nơi có tàu nước ngoài tới (riêng Ðàng Trong) ; còn nền thương mại trong dân chúng thời đó chỉ là cái chợ làng, buôn bán nhỏ. Ðó là những yếu tố trong nhiều yếu tố tạo nên "cảnh trầm lắng" của làng xã. Khi Tin Mừng đã ăn rễ sâu vào một số làng xã thì sức sống có phần vươn lên : bởi Thánh Lễ hàng ngày (nếu có Lm), bởi lời kinh tối sáng trong các nhà thờ, các gia đình Công Giáo, bởi các hội đạo đức như Họ Ðức Bà, Họ Thánh Binh Nhi Ðồng ... Nhờ vậy "xóm đạo" dễ dàng củng cố và phát triển đức tin, tăng cường đoàn kết, vui tươi, sinh động hơn trước ; nhưng cũng dễ rơi vào trạng thái tự mãn, đóng kín, xa cách với đồng bào. Sống và sinh hoạt tập thể về tôn giáo tại nhà thờ, giữa các hội đạo đức, hay gia đình, đúng là làm cho "xóm đạo" có phần vững vàng. Bởi thế, vào thế kỷ 19, khi nhà cầm quyền muốn quét sạch "Tả đạo Gia Tô" đã ra lệnh phân sáp các làng xã "có đạo", phân tán đi các làng khác. Họ Nhà Thờ Việt Nam ngày xưa là một cơ thể sống động, trong khung cảnh đó, bổn đạo đóng một vai trò quan trọng, dầu không có Lm. Chính bổn đạo đã hoàn toàn tự nguyện tham gia các sinh hoạt tôn giáo và bên lề tôn giáo, nhất là buổi tối, sau khi ở đồng áng về. Do đấy, sinh hoạt tôn giáo của khu xóm Công Giáo trở nên sinh động và sầm uất. Chỉ nguyên một việc, tối nào cũng họp nhau đọc kinh, đã thấy được tính cách sầm uất đó. Nhiều sinh hoạt náo nhiệt có thể đậm màu sắc hình thức, nhưng đối với người dân quê Việt Nam sống nhiều bằng trực giác, bằng hình thức, lễ nghi, thì những sinh hoạt ấy vẫn là một thứ nuôi dưỡng đức tin ; họ đã sống đạo theo não trạng và hoàn cảnh của họ thời đó. Ðàng khác, chính những hình thức và tổ chức ấy là mối dây thắt chặt bổn đạo lại trong cùng một Họ. Do đó, sự đoàn kết yêu thương những người đồng đạo với nhau rất sâu xa. Ðiều này được thể hiện ngay từ năm 1632, vì dân chúng ở Thăng Long gọi đồng bào Công Giáo là những kẻ theo đạo yêu nhău (ley de se amar) (1) . Truyền thống sinh hoạt của các Họ Nhà Thờ Việt Nam xưa, vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, mặc dầu về hình thức có thay đổi. Tính sinh động của mỗi Họ Nhà Thờ dù mang hình thức tập thể nhưng lại nâng đỡ, bảo vệ và phát triển đức tin của từng cá nhân. Lòng sốt sắng của cá nhân lại tác động đến cả gia đình và góp phần cho sức sinh động của toàn Họ. Xem ra các gia đình ngày xưa đã giữ một vai trò rất quan trọng trong việc nuôi dưỡng đức tin của con em. Thật ra hầu hết cha mẹ không thông hiểu giáo lý, nhưng nhờ thuộc vãn đạo, kinh bổn, kinh nguyện, có thể đọc thuộc lòng hàng giờ, rồi dạy lại cho con em trong gia đình, nên cứ thế hệ này tới thế hệ kia, họ vẫn có một thứ đức tin không hẳn là tri thức mà nghiêng về cảm thức nhiều hơn. Thứ đức tin ấy, trong hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội Việt Nam xưa, sau khi ăn sâu vào tâm hồn, thì được biểu lộ bằng nhiều hình thức có tính cách tập thể, truyền thụ đức tin bằng lời hơn là bằng chữ, bằng sức sống truyền cảm hơn là bằng những trang sách, giúp người ta vẫn kiên trì giữ đạo, dầu sống trong hoàn cảnh khó khăn, nhất là khi không có Lm, cũng chẳng có sách đạo mà đọc. | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
![]() Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows Last updated: Mar 01, 2008 webmaster@lavangparish.org |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||