|
|
|||||||||||||||||||||||||||
![]() ![]() |
|||||||||||||||||||||||||||
![]() |
Ðức Tổng Giám Mục G.B Phạm Minh Mẫn Bài được sưu tầm từ CD VietCatholic Dẫn Nhập : TƯƠNG QUAN GIỮA ÐỨC TIN VÀ VĂN HOÁ Trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi, Ðức Phaolô VI nói đến "cuộc ly hôn giữ đức tin và văn hoá trong thời đại chúng ta" (số 20). Ðức Gioan Phaolô II coi "cuộc đối thoại giữa đức tin và nền văn hoá trong thời hiện tại là là lãnh địa mang tính sinh tử" (Thư thiết lập Hội Ðồng Toà Thánh về Văn Hoá, ngày 28-6-1982). Tin Mừng chỉ thực sự cắm rễ sâu khi thấm nhập vào chiều sâu văn hoá và lối sống cụ thể của một con người, một dân tộc. I. MÔ TẢ VÀ NHẬN ÐỊNH : VĂN HOÁ VIỆT NAM THỜI HIỆN TẠI 1. Một vài nét đặc trưng trong văn hoá Việt Nam Xác định những nét đặc trưng của văn hoá Việt Nam không phải là điều dễ dàng. Ðây là công việc mà nhiều chuyên viên thuộc nhiều ngành khác nhau phải cùng nghiên cứu (nhân chủng, xã hội, tâm lý, triết học ...). Ở đây thử đưa ra một số nét dễ thấy và nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. 1.1. Gia đình Gia đình và gia tộc đóng vai trò quan trọng đối với người Việt. Lý lịch của một người được xác định trong tương quan với gia đình, tính cách một con người phần lớn cũng được hình thành bởi gia đình. Thành công hay thất bại của một người ảnh hưởng đến cả gia đình (một người làm quan, cả họ được nhờ). Lối sống mang dấu ấn gia đình như trên ảnh hưởng đến cả lối sống xã hội và tôn giáo : nhìn quyền lực xã hội theo chiều dọc (nặng tính quân chủ cai trị) hơn là chiều ngang (dân chủ, do dân trao quyền) ; theo đạo và sống đạo là do ảnh hưởng của cả gia đình. 1.2. Phẩm trật Lối sống trong gia đình chi phối cách sống trong xã hội, tạo nên cách nhìn về quyền lực mang tính phẩm trật. Ảnh hưởng của Khổng giáo, chế độ quân chủ, chế độ thực dân ... tất cả càng làm cho mạnh mẽ hơn quan niệm nặng tính phẩm trật : mệnh lệnh từ trên ban xuống không cần đặt vấn đề, vị trí và tài sản của những người có chức quyền cũng được đón nhận cách tự nhiên. Quan niệm này không chỉ thịnh hành trong thời vua chúa ngày xưa nhưng ngay cả hôm nay, trong sinh hoạt xã hội rộng lớn cũng như trong sinh hoạt ở các nhóm nhỏ (cơ quan, xí nghiệp, công ty, trường học, bệnh viện...). 1.3. Tâm tình tôn giáo Người Việt nói chung có cảm thức sống động và mãnh liệt về "ông trời" cũng như về thế giới thần thiêng. Tâm tình này nâng đỡ con người rất nhiều khi phải đối mặt với những thử thách trong cuộc sống, cũng như ảnh hưởng trên đời sống luân lý, đạo đức của dân tộc. Ðôi khi tâm tình tôn giáo này mang tính "định mệnh" (số phận, Chúa định liệu ...), có thể làm mất đi tính sáng tạo và nỗ lực cá nhân. Những nét văn hoá trên đương nhiên có những điểm thái quá và bất cập, từ đó có những tác động tốt nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng chưa tốt trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng. 2. Những thách đố hiện tại 2.1. Lịch sử Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20 chịu tác động bởi hai luồng tư tưởng lớn có ảnh hưởng rất mạnh mẽ : - Chủ nghĩa cộng sản : Tại miền Bắc từ năm 1954, tại miền Nam từ năm 1975. Chủ nghĩa này không đơn thuần là chủ nghĩa kinh tế nhưng còn là một hệ tư tưởng muốn chi phối và định hình lại toàn bộ văn hoá VN. - Nền kinh tế thị trường : (từ năm 1990) với những biến động (đô thị hoá, xã hội hoá, tình trạng di dân ...). Ðồng thời, tiến trình toàn cầu hoá (qua sinh hoạt kinh tế và mạnh lưới truyền thông), không xuất hiện như một hệ ý thức nhưng tác động rất mạnh trên lối sống của cả nước. Michel Schooyans cho rằng hàm ẩn trong tiến trình toàn cầu hoá là một thứ Triết Lý loại trừ, loại trừ người nghèo, người yếu thế và như thế cũng là một thứ chủ nghĩa chủng tộc (x. L'Evangile en face du désordre mondial). 2.2. Thang giá trị bị đảo lộn Các nhà xã hội học cho thấy : trong tiến trình toàn cầu hoá hiện tại, thang giá trị trong cuộc sống con người dần dần bị đảo lộn, không riêng tại VN nhưng tại hầu hết các quốc gia thuộc thế giới thứ ba. Biểu đồ cụ thể :
2.3. Sự đảo lộn này đương nhiên tác động lên cấu trúc văn hoá VN. Một cách cụ thể : Gia đình không còn cấu trúc bền vững như xưa : tình trạng ly hôn gia tăng rất nhanh, những tệ nạn gắn liền với đời sống gia đình như ngoại tình, mãi dâm, lối sống buông thả trong giới trẻ ... Phẩm trật xã hội (và cả trong Giáo Hội) bị đặt thành vấn đề tuy chưa đến mức bùng nổ. Cảm thức tôn giáo bùng nổ (tại những nơi bị đàn áp nặng nề trước đây, ngay cả trong giới ngoài Công giáo, hiện tượng khấn vái, đi chùa ... trong giới trẻ), tuy nhiên, có thể là những tâm tình lệch lạc chứ không phải niềm tin đích thực. II. SUY TƯ ÐỨC TIN VỀ HỘI NHẬP VĂN HOÁ 1. Cái nhìn tổng quát 1.1. Tương quan giữa đức tin và văn hoá không phải là vấn đề mới, nhưng đã được đặt ra ngay từ buổi đầu của Kitô giáo. Chỉ cần đọc lại sách Công Vụ về Công Ðồng đầu tiên tại Giêrusalem với vấn nạn : Người Kitô hữu không phải gốc Do Thái có cần chịu phép cắt bì ? (15,1-30 ; 17,22-28). Tiến trình này tiếp tục diễn ra khi Giáo Hội loan báo Tin Mừng cho thế giới Hy-La và trong thời Trung Cổ, Giáo Hội đã vận dụng triết học Hy Lạp để trình bày các chân lý đức tin. 1.2. Tuy nhiên, ngày nay cách nhìn về tương quan giữa đức tin và văn hoá đã đổi khác. Trước đây Giáo Hội có cái nhìn về văn hoá nặng tính siêu hình, còn bây giờ là cái nhìn mang tính xã hội và thường nghiệm hơn. Trước đây, Giáo Hội nhấn mạnh đến Philosophia perennis (triết lý ngàn đời) coi như chỉ có một nền văn hoá duy nhất (từ đó xuất hiện khuynh hướng phủ nhận cái gì khác với mình và áp đặt cái của mình cho người khác), còn bây giờ nhìn nhận nền văn hoá của các dân tộc, những truyền thống và lối sống đã được hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ và tác động lên nhân cách của mỗi con người sống trong nền văn hoá đó. Như vậy trong tiến trình hội nhập văn hoá, có hai bước song hành : - Bước vào một nền văn hoá, đối thoại với nó. - Tác động hỗ tương giữa đức tin và văn hoá. Giáo Hội định nghĩa về hội nhập văn hoá như là "Tiến trình qua đó một cộng đoàn Giáo Hội sống kinh nghiệm vào đức tin Kitô giáo của mình trong một bối cảnh văn hoá cụ thể, làm sao để không những kinh nghiệm và đức tin đó được diễn tả bằng những yếu tố của văn hoá địa phương, mà còn trở nên sức mạnh linh hoạt hoá, định hình và canh tân cách sâu xa nền văn hoá đó, để tạo nên những mẫu mực hiệp thông và giao lưu trong và vượt trên nền văn hoá đó" (Chúa Kitô và các nền văn hoá, Tài liệu của Giáo Hoàng Học Viện Gregorio, 1983). 1.3. Trong cụ thể, tại Việt Nam cũng như tại Á châu, ba cuộc đối thoại lớn mà Giáo Hội địa phương phải tiến hành là : - Ðối thoại với nền văn hoá bản địa.- Ðối thoại với những truyền thống tôn giáo có mặt trong đất nước mình.- Ðối thoại với người nghèo và những người bị bỏ rơi. Công việc này không thể làm một lần là xong nhưng cần được liên lỉ nối dài : "Tiến trình hội nhập văn hoá là tiến trình liên lỉ, do đặc tính năng động của mỗi nền văn hoá và do tính mới mẻ không ngừng của kinh nghiệm Kitô giáo. Như thế mọi Giáo Hội địa phương phải không ngừng dấn thân vào những tiến trình hội nhập văn hoá đa dạng và khác nhau" (Chúa Kitô và các nền văn hoá, như trên). 2. Ðức Giêsu Kitô : Mẫu mực của hội nhập văn hoá 2.1. Nhập Thể a. Khi Thiên Chúa làm người, Ngài đã làm một con người cụ thể, Ðức Giêsu Nazareth, trong bối cảnh lịch sử cụ thể với những giới hạn về không gian và thời gian. Thần học gọi là Particularity và người ta cũng nói đến scandal of particularity vì tại sao Thiên Chúa không làm một người Việt Nam, Ấn Ðộ mà lại là người Do Thái ? Tuy nhiên, đó là điều tất yếu khi Thiên Chúa chấp nhận thân phận làm người cách trọn vẹn, ngoại trừ tội lỗi. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, bao hàm tiến trình hai chiều : Thiên Chúa trở nên con người và con người trở nên Thiên Chúa trong Ðức Giêsu. Trong Ðức Giêsu, việc Thiên Chúa trở nên con người là sáng kiến và quà tặng hoàn toàn cho không của Ngài, nhưng đồng thời sự đáp trả về phía con người cũng là lời đáp trả rất tích cực và sống động, để con người đó đạt đến độ thành toàn. Chính vì thế, Nhập Thể không chỉ giúp ta hiểu biết Thiên Chúa (không ai biết Cha trừ ra Con) mà còn hiểu biết về con người, về phẩm giá và vận mệnh cao cả của nó (khi Chúa Giêsu đến mặc khải về Chúa Cha và tình yêu của Người. Ðồng thời, Ngài cũng tỏ cho con người thấy phẩm giá và vận mệnh cao cả của họ, GS 22). b. Cũng tương tự như thế, Tin Mừng được loan báo cho những con người cụ thể, trong một bối cảnh lịch sử và nền văn hoá cụ thể. Tin Mừng đảm nhận trọn vẹn những sắc thái của nền văn hoá đó. Chính vì thế, Ðức Phaolô VI có thể nói đến một "Kitô giáo Phi châu" và Ðức Gioan Phaolô II có thể nói : "Kitô giáo không những có ý nghĩa cho Phi châu, nhưng hơn nữa, Chúa Kitô, trong các chi thể của Thân Mình Ngài, chính là người Phi châu". Trong mỗi nền văn hoá, đã có chiều kích linh thánh (vì được Thiên Chúa tạo thành và Thánh Thần của Ngài không ngừng hoạt động trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại cũng như các dân nước). Tin Mừng đón nhận chiều kích linh thánh đó và đưa tới mức hoàn thành. 2.2. Mầu nhiệm khổ nạn a. Hình ảnh Chúa Giêsu cầu nguyện trong vườn Ghetsemani diễn tả "cuộc vật lộn" giữa thánh ý Thiên Chúa và ý muốn của con người tự nhiên. Con người tự nhiên trong Ðức Giêsu phải chấp nhận cuộc thanh tẩy đau đớn để hoàn toàn nên một với Thiên Chúa trong công trình cứu độ đầy yêu thương Ngài dành cho nhân loại. b. Cũng thế, Tin Mừng mời gọi con người - sống trong một nền văn hoá cụ thể - hoán cải và hoán cải liên lỉ. Mọi con người và mọi nền văn hoá đều bị tội lỗi chi phối. Tin Mừng lên án tính phi nhân, sự kiêu căng, ích kỷ, vô tâm, chai đá, thờ ngẫu tượng ... hàm chứa trong lối sống của con người. Trở lại với văn hoá Việt Nam, bên cạnh những yếu tố tích cực, vẫn luôn có những khía cạnh tiêu cực, xưa cũng như nay : trọng nam khinh nữ, đa thê, tôn thờ thụ tạo (thần sông, thần biển, thần tài, thần quyền lực...) thay vì tôn thờ Thiên Chúa. Chính vì thế, tiến trình hội nhập văn hoá đòi hỏi sự biện phân sáng suốt để nhận ra những gì là phi nhân, phản Tin Mừng ; đồng thời chấp nhận cuộc thanh tẩy bằng mồ hôi và máu. 2.3. Phục Sinh và ban Thánh Thần a. Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Thân xác Ngài được thần thiêng hoá, phá vỡ mọi giới hạn, không gian và thời gian, mang tính hiện diện phổ quát. Toàn bộ thân phận con người được biến đổi trong và nhờ Chúa Giêsu, và Ngài ban Thánh Thần xuống kiến tạo những con người mới và một nhân loại mới. b. Trong tiến trình hội nhập văn hoá, Tin Mừng đảm nhận và thanh tẩy các nền văn hoá, giúp nền văn hoá tìm lại được nét tinh khôi và những giá trị đích thực. Khi đó, mỗi nền văn hoá vẫn giữ những sắc thái riêng, đồng thời cùng nhau tạo nên catholica unitas, nghĩa là sự hiệp nhất phổ quát trong Giáo Hội, hiệp nhất trong đa dạng và khác biệt. Khi đó, Giáo Hội thực sự là khí cụ và dấu chỉ sự hiệp nhất giữa con người và Thiên Chúa cũng như giữa nhân loại với nhau. III. KẾ HOẠCH VÀ HÀNH ÐỘNG 1. Những lãnh vực cần quan tâm (Trong bối cảnh cụ thể của Giáo Hội Việt Nam với những khó khăn và giới hạn phải chấp nhận). 1.1. Củng cố đời sống gia đình Như đã phân tích, gia đình là yếu tố nền tảng trong văn hoá Việt Nam nhưng đang bị khủng hoảng do những biến động xã hội và tâm lý. Vì thế, cần củng cố lại đời sống gia đình trên mọi bình diện thiêng liêng, nhân bản, xã hội ... Cách riêng tại giáo phận Tp.HCM đã có các nỗ lực : - Chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào đời sống gia đình cách ý thức hơn. - Nâng đỡ những phong trào gắn với đời sống gia đình (gia đình cùng theo Chúa, Nagia ...) - Quan tâm đến việc tháp tùng các đôi hôn phối sau hôn nhân, ví dụ : qua tư vấn, thăm viếng, gặp gỡ (chưa được phát triển rộng rãi cho lắm). 1.2. Phát huy tính dân chủ (trong Giáo Hội) Phát huy cung cách lãnh đạo mang tính hiệp thông nhiều hơn là cai trị. Thể hiện qua việc mời gọi mọi thành phần Dân Chúa tham gia suy nghĩ cũng như quyết định. Trong mức độ giáo xứ, phát huy vai trò của Hội Ðồng Mục Vụ Giáo Xứ. 1.3. Loan báo Tin Mừng Cần trình bày và diễn tả đức tin bằng ngôn ngữ gần gũi và phù hợp với văn hoá Việt Nam hơn (ngôn ngữ phụng vụ, giáo lý, thánh nghệ ...). Thúc đẩy suy tư thần học trong chiều hướng hội nhập văn hoá (một công việc dài hơi và liên lỉ). 2. Ðào tạo 2.1. Tất cả những lãnh vực trên đều đòi hỏi công việc căn bản : đào tạo nhân sự. 2.2. Nhân sự bao hàm mọi thành phần Dân Chúa : - Ðào tạo chủng sinh theo hướng mục vụ và hội nhập văn hoá nhiều hơn. - Thường huấn linh mục và tu sĩ. - Ðào tạo hàng ngũ giáo dân trưởng thành (nhân bản, thiêng liêng, đức tin). - Ðào tạo chuyên viên cho mỗi lãnh vực. | ||||||||||||||||||||||||||
![]() |
![]() Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows Last updated: Mar 01, 2008 webmaster@lavangparish.org |
||||||||||||||||||||||||||