Trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương - Ga 13:34
SƯU TẦM
back
Á THÁNH ANRÊ PHÚ YÊN "Người Chứng Thứ Nhất"
(1625 - 1644)

Cosma Hoàng Văn Ðạt, S.J.


"Người chứng thứ nhất" là tiếng Cha Ðắc Lộ dùng để chỉ Á Thánh Anrê Phú Yên. Thực ra, cũng theo cha Ðắc Lộ, một giáo dân ở Thăng Long, tên thánh là Phanxicô, chết vì đức tin năm 1630, mới là vị tử đạo tiên khởi, nhưng vị này không bị kết án chính thức.

Ai cũng nghĩ cứ sự thường, Anrê Phú Yên phải được tuyên thánh trước nhất, hay ít ra là cùng với những vị trong đợt đầu tiên. Nhưng năm 1988, khi Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam, nhiều người ngạc nhiên khi không thấy có thầy giảng Anrê Phú Yên. Thực ra lúc ấy, ngài chưa được tuyên phong Á Thánh ! Năm 1994, nhân kỷ niệm 350 năm ngài tử đạo, khoảng 1500 giáo lý viên của các giáo xứ thuộc giáo phận TP. Hồ Chí Minh họp mặt tại nhà thờ Ðức Bà Sài Gòn đã ký tên vào đơn xin tuyên phong Á Thánh cho ngài. Ngày 5-3-2000, ngài được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong Á Thánh tại Roma, thoả lòng mong ước của bao tín hữu Việt Nam, nhất là giáo phận Ðà Nẵng, giáo phận Quy Nhơn, Dòng Tên Việt Nam và các giáo lý viên trong cả nuớc.

I. THEO CHÚA

Nếu theo Quốc Lộ 1A từ Bắc vào Nam đến cây số 1300, chúng ta sẽ gặp cầu Ngân Sơn bắc qua sông Kỳ Lộ, dân địa phương gọi là sông Cái. Sông này bắt nguồn từ núi Kong KDung, cao 1029m, trên cao nguyên Gia Lai ở phía Tây Bắc, và chảy ra Biển Ðông ở cửa Tiên Châu trong vịnh Xuân Ðài. Qua cầu Ngân Sơn, chúng ta đến thị trấn Chí Thạnh, huyện lỵ của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Từ Chí Thạnh, men theo con đường dọc hữu ngạn về phía hạ lưu chừng 4km, chúng ta đến nhà thờ Mằng Lăng. Ði thêm chừng 1km nữa, chúng ta đến một địa điểm dân địa phương gọi là Thành Cũ.

Vào thời của Á Thánh Anrê Phú Yên, đây chính là địa điểm của Dinh Trấn Biên. Nếu đi thêm khoảng 3-4km nữa, chúng ta sẽ đến cửa biển Tiên Châu nước yên tĩnh và trong vắt. Hiện nay khu vực này là một vùng nông thôn hiền hoà đầy màu xanh, dân chúng làm ruộng, đánh cá trên sông Kỳ Lộ và vịnh Xuân Ðài, kiếm củi đốt than trên hai ngọn núi nhỏ Sơn Chà và A Mang. Nhưng vào thời của Á Thánh Anrê Phú Yên, đây là dinh trấn tiền đồn của Chúa Nguyễn đối mặt trực tiếp với vương quốc Chiêm Thành ở bên kia đèo Cả. Có lẽ mọi sự đã được tính toán rất kỹ để Dinh Trấn Biên được đặt tại nơi ngày nay gọi là Thành Cũ : biển, sông, núi, ruộng, đường bộ, đèo Cả ở phía Nam, đèo Cù Mông ở phía Bắc ...

Năm 1470, sau khi đuổi người Chăm qua phía Nam đèo Cả, vua Lê Thánh Tông đến núi Ðá Bia ở đèo Cả, cách Thành Cũ chừng 60 km về phía Nam, đánh dấu ranh giới phía Nam của nước Ðại Việt. Bên kia đèo Cả là nước Chiêm Thành còn lại của người Chăm. Cho đến thời của Á Thánh Anrê Phú Yên, nghĩa là gần 200 năm sau, ranh giới này vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên việc khai phá chỉ tiến triển từng bước. Năm 1570, Nguyễn Hoàng được đặt làm Tổng Trấn Thuận Hoá và Quảng Nam, nhưng thực tế, ông chỉ cai trị đến đèo Cù Mông, tức là hết tỉnh Bình Ðịnh hiện nay, chưa đến Phú Yên. Năm 1578 ông cho đưa dân đến Phú Yên. Năm 1629 ông cho lập Dinh Trấn Biên ở Phú Yên. Vết tích Chăm ngày nay vẫn còn khá nhiều ở Phú Yên : Tháp Nhạn ở thị xã Tuy Hoà, nhiều mộ người Chăm mà dân chúng địa phương gọi là mả Hời, một số tên riêng như sông Ðà Rằng, núi A Mang ...

Có thể nói, giả sử không có cha Ðắc Lộ thì cũng không có Á Thánh Anrê Phú Yên. Cha Ðắc Lộ sinh năm 1593 tại Avignon, lúc ấy là lãnh địa thuộc quyền Toà Thánh trên đất Pháp. Năm 1612 cha vào Dòng Tên với ước nguyện được đi truyền giáo ở Viễn Ðông. Sau khi thụ phong linh mục năm 1618, cha được chỉ định đi Nhật Bản. Ðể chuẩn bị, cha đến Áo Môn ở Trung Hoa để học tiếng Nhật. Nhưng lúc ấy chính quyền Nhật Bản cấm đạo gắt gao, trong khi công cuộc truyền giáo ở Việt Nam đang tiến triển tốt đẹp, vì thế cha được phái đến Việt Nam lần đầu năm 1624. Cha học tiếng Việt tại Hội An và chỉ trong một thời gian ngắn đã nghe và nói được thông thạo.

Vào thời ấy Việt Nam bị phân chia thành 2 miền, lấy sông Gianh ở Quảng Bình làm ranh giới : miền Bắc được nhân dân gọi là Ðàng Ngoài do chúa Trịnh cai trị, miền Nam là Ðàng Trong do chúa Nguyễn. Vua Lê ở Thăng Long chỉ có hư vị. Ðàng Trong lúc bấy giờ được chia thành 4 trấn : Bố Chính (Quảng Bình), Thuận Hoá (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế), Quảng Nam (bao gồm cả hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn) và Phú Yên. Ðứng đầu mỗi trấn là vị trấn thủ thường là con trai hay con rể chúa Nguyễn, trừ trấn Thuận Hoá gọi là dinh chính do chúa Nguyễn đích thân chỉ huy.

Có thời gian một mình cha Ðắc Lộ là linh mục tung hoành hoạt động truyền giáo tại Ðàng Trong : "Không bao giờ tôi thấy Thiên Chúa phù hộ rõ rệt hơn. Chỉ mình tôi là linh mục trong lãnh thổ rộng lớn (Ðàng Trong) và tôi nói thật rằng, xứ đạo của tôi ít ra cũng rộng tới 120 dặm. Thế nhưng trong vòng 2 năm tôi đi thăm được tất cả không bỏ sót một nơi nào tôi biết, cần bao lâu thì tôi ở bấy lâu để giúp đỡ các linh hồn. Tôi nói thật, hai năm đó như là một Tuần Thánh liên tục : ở đâu tôi cũng phải làm những việc mà ở Âu Châu người ta làm trong Tuần Thánh". Riêng về "ba tỉnh phía Nam" tức là Quảng Ngãi, Bình Ðịnh và Phú Yên, cha kể : "Cả ba tỉnh này đều rất đẹp, có nhiều cửa biển và sông lớn rất thuận tiện cho việc thông thương đi lại. Về phía tỉnh Phú Yên, chúa Nguyễn có nhiều thuyền chiến để chống xâm lăng... ở ngay biên giới. Ngoài ra chính ở đây có thổ sản rất quý là trầm hương và tổ yến". Về hoạt động tông đồ, cha kể : "Tôi bỏ ra 6 tháng để đi một vòng cả ba tỉnh, lúc thì đi đường biển, lúc thì đi đường sông, gặp nhiều nguy hiểm. Mà đi đường bộ cũng khó khăn và vất vả không kém. Nhưng Chúa nhân lành hằng ở cạnh tôi và cứu tôi ở hết mọi nơi mọi chốn".

Vị thừa sai đầu tiên đặt chân đến Phú Yên năm 1624 chính là cha Phanxicô Buzomi. Có thể lúc ấy đã có một số giáo dân đến đó lập nghiệp trong đà nam tiến của dân tộc. Cũng có thể lúc ấy ngài rửa tội thêm một số tân tòng. Năm 1641 cha Ðắc Lộ đến Phú Yên lần đầu. Dịp này một thiếu niên 16 tuổi đã tìm đến xin được rửa tội và được cha rửa tội cho. Lễ rửa tội cho chừng 90 người được cử hành khoảng tháng 5 tại tư dinh công chúa Ngọc Liên, người đã theo đạo từ trước với tên thánh là Maria Madalena, và lúc ấy là vợ của tướng Nguyễn Phúc Vinh, quan trấn thủ Phú Yên. Khi được rửa tội, thiếu niên ấy mang tên thánh Anrê. Sau này cha Ðắc Lộ chỉ gọi bằng tên ấy, nên chúng ta không biết tên thật của ngài. Có lẽ ở nhà ngài được gọi bằng "Út" theo thói quen địa phương. Còn tên chính thức của ngài trong sổ sách thì cho đến nay vẫn chưa ai tìm được. Lúc ấy Anrê chỉ là một chú bé giữa bao người khác, chưa có gì nổi bật khiến cha Ðắc Lộ phải nhắc đến.

Cha Ðắc Lộ phấn khởi : "Năm 1625 đạo Chúa Kitô đưọc truyền bá khắp nơi ở Ðàng Trong. Chúng tôi có 10 tu sĩ chuyên cần hoạt động và công việc không gặp cản trở". Ðó chính là năm Anrê chào đời. Ngài là con út trong gia đình đông anh chị em, có lẽ cha mất sớm, mẹ là bà Gioanna, một phụ nữ đảm đang và được cha Ðắc Lộ gọi là "rất nhiệt thành". Bà chăm lo nuôi nấng dạy dỗ đàn con nói chung, rất chăm sóc việc giáo dục cho Anrê nói riêng, cả về đường đức hạnh cũng như học vấn. Bà "đã lo cho Anrê ngày từ những năm đầu được học chữ nghĩa, kinh sử". Ðiều này chúng ta sẽ thấy rõ hơn khi ngài học với thầy Inhaxu. Ngoài ra, hầu như chúng ta không biết gì hơn về tuổi nhỏ của ngài. Có lẽ ngài cũng lên núi Sơn Chà kiếm củi hoặc ra ruộng cày cấy phụ giúp cha mẹ như bao thiếu niên đồng trang lứa. Ðặc biệt sau này cha Ðắc Lộ cho biết ngài chèo thuyền rất giỏi. Hẳn là ngài đã được tập luyện khi điều khiển những chiếc "xổng", tức là thuyền nhỏ làm bằng tre trên sông Cái. Vì mẹ ngài rất đạo đức nên chắc chắn gia đình phải đọc kinh cầu nguyện hằng ngày. Chẳng những vậy, có thể ngài còn được mẹ dạy những điều cơ bản về đạo nữa. Tóm lại ngài là mảnh đất tốt, chỉ chờ cha Ðắc Lộ đến gieo hạt giống thiêng liêng vào là nảy mầm để rồi sinh hoa kết quả dồi dào.

Có lẽ gia đình bà Gioanna đã cùng với một số gia đình khác chuyển đến Phú Yên từ trước đó khá lâu. Cha Ðắc Lộ cho biết là cha mẹ Anrê đều có đạo. Có thể vì ở quê mới không có nhà thờ, không có linh mục, không có ai dạy dỗ, nên phải chờ tới khi cha Ðắc Lộ đến, Anrê mới được rửa tội. Có thể xác định, theo chứng từ có được, gia đình ngài ở xóm Lò Giấy, cách nhà thờ Mằng Lăng hiện nay khoảng 3km về phía Tây Bắc, bên kia sông, là xóm đạo đầu tiên ở Phú Yên. Như vậy, có thể Anrê ở xóm này. Hiện nay xóm Lò Giấy chỉ còn lại vài gia đình Công Giáo. Ngôi nhà thờ làng, không biết được dựng từ khi nào, nay không còn dấu vết gì khác ngoài nền lát gạch dùng làm sân phơi lúa.

Chuyến thăm Phú Yên lần đầu của cha Ðắc Lộ thành công rực rỗ. Cha cho biết : "Khi tôi ngồi toà thì các kẻ giảng làm phận sự dạy người tân tòng. Tôi cũng tìm thời giờ để giảng mỗi ngày 2 lần. Lương dân kéo đến lũ lượt và Thiên Chúa phán trong lòng họ. Số người chịu phép rửa tội nhiều khi quá đông không làm trong nhà thờ được, mặc dù nhà thờ khá rộng lớn, đành phải dạy dỗ và rửa tội cho họ ở sân lớn trước cửa nhà thờ. Thế mà trong công việc này, tôi không cảm thấy mệt mỏi, không ngã bệnh. Tôi vui sướng đến nỗi không biết tôi còn ở dưới đất hay là đã lên trời". Dù vậy chỉ ở Ðàng Trong được 7 tháng, cha buộc phải rời Việt nam theo lệnh quan trấn thủ Quảng Nam.

II. DÂNG MÌNH CHO CHÚA

Chỉ mấy tháng sau, vào đầu năm 1642, cha Ðắc Lộ lại quay về với đoàn chiên Ðàng Trong. Lần này Anrê đến xin theo cha và được nhập Hội Thầy Giảng.

Khi chính thức khởi sự công cuộc truyền giáo ở Việt Nam năm 1615, các cha Dòng Tên đặt trụ sở tại Hội An, nơi có thương cảng quốc tế, có nhiều người Nhật Bản và Bồ Ðào Nha đến làm ăn buôn bán. Cha Phanxicô Buzomi mà cha Ðắc Lộ kính cẩn gọi là "vị tông đồ Ðàng Trong" ngay từ đầu đã mời gọi và huấn luyện một số giáo dân làm kẻ giảng tức là giáo lý viên, để cộng tác với các thừa sai trong hoạt động tông đồ.

Khi hoạt động truyền giáo ở Ðàng Ngoài, từ 1627 đến 1630, cha Ðắc Lộ đi xa hơn một bước nữa : lập Hội Thầy Giảng. Chẳng những các giáo lý viên họp thành một cộng đoàn mà mỗi người còn tuyên khấn nữa. Cha Ðắc Lộ kể : "Trước mặt giáo đoàn, trong thánh lễ, họ đã thề suốt đời phụng sự Hội Thánh, không lập gia đình và vâng lời các Cha Dòng đến giảng Tin Mừng. Thấy nghi lễ long trọng này, mọi giáo dân đều phấn khởi và trọng kính các tôi tớ Chúa. Còn họ, thực sự họ làm trọn sứ mạng rất xứng đáng. Phần lớn thành quả thâu lượm được ở xứ này là nhờ họ". Nhờ đó khi có các thừa sai, các thầy giúp các cha. Ðặc biệt khi không có các thừa sai, các thầy điều hành cộng đoàn tín hữu trong khi vẫn tiếp tục hoạt động truyền giáo cho những người chưa tin Chúa. Rút kinh nghiệm ở Ðàng Ngoài, khi trở lại Ðàng Trong, cha cũng thành lập Hội Thầy Giảng. Hẳn là qua đời sống và hoạt động của cha Ðắc Lộ nói riêng và các kẻ giảng nói chung, người con út của bà Gioanna nhiệt thành đã nghe được tiếng gọi thầm kín nhưng mãnh liệt của Chúa Giêsu : "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho con trở thành kẻ lưới người".

Theo cha Ðắc lộ thì Anrê lúc ấy là một thiếu niên không được khoẻ mạnh lắm, đã biết chữ khá, chắc là chữ Nôm, khéo tay, thông minh, khôn ngoan và rất nhiệt thành. Tuy nhiên chú bé này còn trẻ quá. Thầy giảng Inhaxu đã trên 30 tuổi, đã từng là quan ở triều đình, trong khi Anrê mới 17 tuổi, học hành chưa đến đâu, còn non nớt quá. Cha Ðắc Lộ từ chối nhưng chú bé ở vào "tuổi bẻ gãy sừng trâu" ấy không chịu đầu hàng. Mẹ ngài là bà Gioanna - mà cha Ðắc Lộ rất quý mến - đến xin cho con. Thế là ngài được nhận rồi theo cha Ðắc Lộ và các thầy giảng khác đi Hội An, trụ sở của đoàn truyền giáo.

Hội Thầy Giảng Ðàng Trong lúc ấy có 10 anh em do thầy Inhaxu đứng đầu. Cha Ðắc Lộ kể về thầy Inhaxu : "...con nhà sang trọng, từng là thẩm phán, thông minh, rất giỏi chữ Nho, nhất là rất đạo đức, một vị thánh đích thực, gốc ở miền Bắc, sau khi chịu phép rửa tội thì không muốn rời tôi, và thực ra tôi gặp được Inhaxu thì không lấy gì làm sung sướng hơn". Như vậy là sau khi theo đạo, thầy Inhaxu bỏ cả đường công danh đang rộng mở để theo cha Ðắc Lộ làm kẻ giảng. Anrê được giao cho thầy để học văn chương. Có lẽ là học chữ Nho và Tứ Thư Ngũ Kinh của Trung Hoa. Anrê học hành có kết quả đến nỗi thầy Inhaxu nói với cha Ðắc Lộ : "Trong tất cả các môn sinh, không một người nào đọ kịp trí tuệ của Anrê : linh lợi thông minh, học đâu hiểu đó".

Chính cha Ðắc lộ kể khá nhiều điều về giai đoạn này của Anrê : "Người anh không khoẻ mạnh lắm, thế mà việc khó mấy trong nhà anh cũng làm luôn, nhiều khi lại làm quá sức, anh quên mình để giúp kẻ khác... Anrê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn anh đã biểu lộ ra ngoài. Anh sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ. Anh có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người khiến ai cũng đều cảm phục... Anh coi mình như kém hết mọi người và không có gì làm cho anh bằng lòng hơn là được dịp phục vụ người khác". Ngoài ra, cha cũng cho biết là ngài khéo tay và chèo thuyền rất giỏi.

Năm 1643, lễ thánh Inhã, tổ phụ Dòng Tên, được tổ chức long trọng tại nhà thờ Hội An. Cha Ðắc Lộ đã nhận được lệnh trục xuất. Không thể bỏ một đoàn chiên bơ vơ. Trong thánh lễ, tất cả 10 anh em, kể cả Anrê lúc ấy 18 tuổi, tay cầm nến sáng, quỳ trước bàn thờ, "tuyên thệ suốt đời phục vụ Hội Thánh, không bao giờ lấy vợ, và sẽ vâng lời các cha Dòng Tên đến giảng đạo trong nước hoặc những vị thay mặt các cha". Chính các kẻ giảng sẽ thay mặt cha, vừa thăm viếng các cộng đoàn, vừa truyền giáo cho những người chưa tin Chúa.

Cha Ðắc Lộ cho biết : "Từ ngày khấn, Anrê tự cho mình có bổn phận sống trọn lành hơn khi trước nhiều lắm. Sự thật thì suốt năm ấy chính là năm cuối đời, anh tiến rất cao trên đường thực hành mọi nhân đức, khiến chúng tôi chẳng hiểu ý Chúa dự định về anh như thế nào, nhưng chúng tôi biết rõ những tác động ấy của ơn thánh sủng chẳng phải là sự thường".

Sau đó, cha Ðắc Lộ cho một mình thầy Inhaxu mặc áo dòng và được gọi là thầy. Ngài chia 10 anh em làm hai nhóm : một nhóm do thầy Inhaxu cầm đầu đi hoạt động ở ba tỉnh phía Bắc là Bố Chính (Quảng Bình), Thuận Hoá (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế), Quảng Nam (Ðà Nẵng và Quảng Nam) ; một nhóm do anh Ðamasô cầm đầu đi hoạt động ở ba tỉnh phía Nam là Quảng Ngãi, Quy Nhơn (Bình Ðịnh) và Phú Yên. Anrê ở nhóm trước. Cha Ðắc Lộ cho biết : "Tôi trở về Áo Môn vào tháng 9-1643, còn họ trung thành làm tròn nhiệm vụ tôi uỷ thác cho. Thoạt đầu tất cả 10 người cùng nhau ở lại một tháng trong nhà chúng tôi ở Ðà Nẵng, mà vì nhà cửa đã bị lương dân phá huỷ bình địa nên phải làm lại. Trong dịp ấy, có mấy người yếu hơn ngã bệnh. Anrê người rất hăng hái nhưng sức yếu nên cũng ngã bệnh. Inhaxu làm bề trên nhưng lại làm đầy tớ tất cả, đêm ngày săn sóc mọi người, không quản khó nhọc và không ngại việc hèn mọn để chữa chạy cho các tôi tớ tốt lành của vị Thầy độc nhất là Ðức Kitô".

Khi khỏi bệnh, họ chia tay đi các nơi như cha Ðắc Lộ đã chỉ định. Cả hai nhóm đều thu được những kết quả tông đồ đáng khích lệ. Năm anh em đi về phía nam hoạt động rất đắc lực : trong 2 tháng đã rửa tội được 293 tân tòng. Riêng nhóm bắc, chỉ trong ít ngày mà đã rửa tội được 303 người. Anrê làm gì ? Cha Ðắc Lộ kể : "Anrê giảng đạo cho người ngoại giáo, dạy dỗ kẻ tân tòng, dọn dẹp nhà thờ rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ những ngày lễ lớn quanh năm, khéo léo đến nỗi làm cho bổn đạo tăng thêm lòng sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính mầu nhiệm của Ðạo".

Vào Lễ Giáng Sinh năm 1643, tại Thuận Hoá, Anrê vốn khéo tay, đã dựng một hang đá rất đẹp, có tượng Chúa Hài Ðồng, Ðức Mẹ và thánh Giuse. Hai nhóm "đi khắp các tỉnh, các làng, các xã ở Ðàng Trong. Thiên Chúa phù hộ, ban ơn, giúp đỡ chúng tôi, nên số giáo dân trong một thời gian ngắn đã thêm được hơn 1.000 người". Ðã diễn ra những cuộc bách hại lẻ tẻ, nhưng giáo dân vẫn vững vàng. Ðiều này cho thấy các kẻ giảng đã thực sự là nhóm lãnh đạo và chứng nhân kiên cường.

Như thế, có thể nói, cuộc đời tận hiến và hoạt động tông đồ đã thu hút toàn bộ trái tim, khối óc và sức lực của người thiếu niên tưởng chừng còn rất non nớt. Và ngài cũng chứng tỏ là một tông đồ đầy triển vọng : mới 19 tuổi, và mới theo đoàn truyền giáo được hai năm, mà đã biết chèo thuyền, biết làm hang đá, biết giảng giáo lý, có học hành, rất đạo đức, ham làm việc, dám xông pha khắp nơi, không ngại khó khăn và nguy hiểm. Giả như mọi sự diễn tiến bình thường, biết đâu ngài sẽ chẳng trở thành người kế thừa xứng đáng vị tông đồ thời danh Ðắc Lộ !

III. LỄ TOÀN THIÊU

"Nếu thế gian ghét anh em, hãy nhớ là nó đã ghét Thầy trước"(Ga 15,18), Chúa Giêsu đã nói như vậy với các môn đệ. Qua dòng thời gian, bao giờ và ở đâu cũng vậy, các tín hữu được nhiều người thương mến nhưng cũng bị một số thù ghét.

Kẻ thù số một của các tín hữu Ðàng Trong thời đó là bà vương phi Tống Thị Toại, một phụ nữ rất có thế lực ở phủ chúa. Bà nguyên là vợ thứ của thế tử Nguyễn Phúc Kỳ, trấn thủ Quảng Nam. Lẽ ra thế tử Kỳ lên kế vị chúa Sãi (1614-1635), nhưng lại qua đời năm 1631, trước chúa Sãi 4 năm. Vương tử Lan, em kế thế tử Kỳ, lên ngôi kế vị, tức Công Thượng Vương hay chúa Thượng. Bà Toại ra vào phủ chúa tự do và ăn ở với chúa Thượng như vợ chồng. Chuyện loạn luân này làm cho nhiều người phẫn nộ. Con thứ tư của chúa Sãi là vương tử Trung đã có ý định quét sạch hai kẻ loạn luân khỏi phủ chúa, nhưng việc không thành. Phần nào giống thánh Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng, thầy Inhaxu đã phê phán người phụ nữ tội lỗi ấy và bị bà căm ghét nên tìm dịp trả thù. Bà rất sợ các thừa sai làm cho chúa Thượng theo đạo, vì lúc ấy bà sẽ mất hết. Bà tìm được một người đồng loã là ông Nghè Bộ ở Quảng Nam. "Ông Nghè Bộ" thật ra không phải là một tên riêng, nhưng là tiếng dân chúng thường dùng để chỉ viên cai bạ, hay cai bộ, tức là người đứng đầu ngành tài chính và thuế khoá ở một trấn. Thực ra, chức năng của viên quan này không liên hệ gì đến vấn đề tôn giáo, nhưng vốn đã ghét đạo, lại muốn nhờ cậy bà Toại, nên sẵn lòng làm tay sai cho người phụ nữ nhiều thế lực.

Những dấu hiệu đầu tiên bộc lộ từ năm 1639. Ông Nghè Bộ xin chúa Thượng trục xuất các thừa sai, vì các cha cho giáo dân tôn thờ ảnh Thánh Giá chứ không sùng bái chư thần trong đất nước. Ông cho người đến cướp một ảnh Thánh Giá rất đẹp các cha vẫn giữ để thờ. Họ đem tới trình chúa và bày ra trăm mưu ngàn chước để làm cho chúa hoảng sợ. Chúa liền truyền cho đốt ảnh đi và đe doạ "người nào còn đưa vào đất nước này những vật khả ố đó thì hãy coi chừng mạng sống..." Người Bồ Ðào Nha chuộc được Thánh Giá nhưng các cha bị trục xuất. Chính vì vậy, có thời gian cha Ðắc Lộ và các thầy giảng phải hoạt động lén lút chứ không dám xuất đầu lộ diện.

Ngày 25-7-1644, Á Thánh Anrê bị bắt. Thực ra, người bà Toại nhắm đến là thầy Inhaxu, vừa nổi tiếng, vừa có ảnh hưởng lớn. Ông Nghè Bộ cho lính xông vào nhà các cha Dòng Tên ở Hội An để bắt thầy. Không tìm được thầy, lính đập phá nhà cửa, ảnh tượng. Hôm ấy, Anrê ở nhà coi sóc 4 anh em đang đau bệnh, trong khi cha Ðắc Lộ và các anh em khác đi làm việc tông đồ. Muốn ngăn cản lính ngừng tay đập phá bừa bãi, ngài nói với họ : "Nếu các ông muốn bắt thầy Inhaxu thì vô ích, vì thầy không có ở nhà. Còn muốn bắt tôi thì rất dễ dàng : tôi là giáo hữu, hơn nữa cũng là kẻ giảng. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho thầy Inhaxu để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội thì làm sao tôi lại vô tội được ?". Thế là họ bắt và trói ngài. Lính định bắt cả mấy thầy đang đau ốm, nhưng ngài cương quyết phản đối, nên họ thôi. Nhưng họ vẫn tiếp tục đập phá ảnh tượng đạo. Ngài đề nghị được cởi trói để xếp ảnh tượng lại cho dễ mang đi, họ cũng chấp thuận. Sau đó, họ trói ngài lại và dẫn về giam ở dinh trấn Quảng Nam trong huyện Ðiện Bàn ngày nay. Cha Ðắc Lộ kể : "Anrê vui vẻ theo họ và trên suốt quãng đường không ngừng giảng cho những người dẫn mình vào ngục biết đường tránh địa ngục và lên thiên đàng".

Trước đó, lính cũng đã bắt một giáo dân 73 tuổi là ông Anrê Sơn. Hai Anrê cùng thức suốt đêm cầu nguyện và khích lệ nhau. Sáng hôm sau, quan trấn thủ đưa cả hai ra xét xử và kết án tử hình cả hai. Nghe tin ấy, cha Ðắc Lộ vận động người Bồ Ðào Nha đến xin quan rút lại bản án. Cha kể : "Ông bằng lòng tha cho cụ già, vì còn con cháu ; nhưng về người thanh niên trai tráng xưng mình là giáo hữu và dù có chết cũng không bỏ danh hiệu ấy, thì sẽ phải chết như đã xin, để dạy cho mọi người biết vâng lệnh chúa".

Nhiều giáo dân Việt Nam cũng như Bồ Ðào Nha đến quỳ dưới chân ngài vừa hôn vừa khóc ròng, xin ngài về thiên đàng nhớ cầu nguyện cho mình. Ngài đáp lại : "Tôi là kẻ rất có tội". Rồi ngài khích lệ họ : "Hỡi anh em, đối với Chúa Giêsu yêu dấu của chúng ta, chúng ta hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết đau khổ vì chúng ta, nên chúng ta hãy lấy mạng sống đáp đền mạng sống... Anh chị em thấy rõ tôi đây bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải vì ăn cướp, giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Tể Trời Ðất và Con Một Người xuống thế chịu chết chuộc tội cho chúng ta. Mọi sự chúng ta có đều do nơi Người. Thế mà người ta lại muốn tôi xúc phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ hình phạt nào người ta có thể bắt tôi phải chịu, tôi chỉ sợ lửa hoả ngục đời đời là hình phạt dành cho kẻ từ chối không tin thờ Chúa Giêsu Kitô là Ðức Chúa Trời thật. Hỡi anh chị em, hãy coi chừng, đừng từ chối ơn Ðức Chúa Trời muốn ban cho anh chị em, phải liệu sao cho khỏi bị xử phạt đời đời".

Cũng cha Ðắc Lộ cho biết : "Sau khi bị kết án tử hình, Anrê hớn hở lạ lùng... Anh xưng tội, quỳ xuống cầu nguyện, vĩnh biệt mọi người, rồi nhanh nhẹn theo toán lính dẫn anh tới thửa ruộng cách thành chừng nửa dặm". Thành đây là thành Thanh Chiêm, trong huyện Ðiện Bàn, nơi có dinh trấn thủ ở khoảng km 952 trên quốc lộ 1A hiện nay. Còn thửa ruộng ấy được dân chúng gọi là Gò Xử, nay nói trại đi thành Gò Sứ, ở địa điểm gọi là Chợ Củi, cách thành chừng 1km, theo cách nói của cha Ðắc Lộ là 2000 bước.

Trên đường ra pháp trường, ngài khích lệ các tín hữu theo ngài : "Hỡi anh chị em, hãy giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu cho đến chết. Không một điều gì có thể dập tắt lòng kính mến Chúa Giêsu trong trái tim chúng ta".

Cha Ðắc Lộ kể tiếp : "Tôi hằng ở bên anh, và tôi không theo kịp, vì anh đi rất nhanh, mặc dù phải mang gông nặng. Tới địa điểm chiến thắng, anh quỳ xuống để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác bao quanh anh. Họ không cho tôi ở bên trong vòng lính, nhưng viên đội trưởng cho phép tôi vào và đứng cạnh anh. Anh vẫn quỳ dưới đất, mắt nhìn trời, miệng luôn hé mở và kêu tên Chúa Giêsu. Một người lính lấy giáo đâm anh từ phía lưng thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Lúc đó Anrê nhìn tôi âu yếm như thể vĩnh biệt tôi. Tôi bảo anh hãy nhìn lên trời, nơi anh sắp tới và có Chúa Giêsu chờ đón anh. Anh ngước mắt lên trời cao và không nhìn xuống nữa. Cũng tên lính rút giáo ra đâm lần thứ hai, rồi lại đâm lần nữa như thể đi tìm trái tim anh. Nhưng con người vô tội ấy vẫn không lay chuyển, thật là kỳ diệu. Sau cùng, một người lính khác thấy lưỡi giáo không làm cho anh ngã xuống đất, liền lấy mã tấu chém cổ. Nhưng một nhát vẫn chưa xong, phải thêm nhát nữa làm đứt hẳn cổ, đầu rơi về bên tay phải, chỉ còn vướng mảnh da. Nhưng tôi nghe rất rõ, cùng lúc đầu lìa khỏi cổ thì Thánh Danh Chúa Giêsu không phải từ miệng anh thốt ra, mà qua vết chém ở cổ. Và cùng lúc hồn anh bay về trời thì xác anh ngã xuống đất".

Sau đó cha Ðắc Lộ gửi phần thân vị tử đạo sang Áo Môn để lưu giữ cùng với hài cốt các vị tử đạo Nhật Bản. Không may một lần kia, nhà lưu giữ bị cháy, mặc dù hài cốt các vị tử đạo không bị thiêu huỷ, nhưng bị lẫn lộn không phân biệt được nữa. Riêng đầu của vị tử đạo, cha Ðắc Lộ luôn đem theo bên mình, và khi đến Roma, đã đặt chung vào nhà lưu trữ hài cốt các vị tử đạo Dòng Tên ở trụ sở trung ương Dòng, ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.

Vậy là ngài đã trở thành người của Hội Thánh, của nhân loại : một người con dân Việt Nam mà đầu ở Châu Âu, mình ở Châu Á. Cha Ðắc Lộ kể nhiều điều về cha gọi là phép lạ sau cuộc tử đạo của ngài cũng như trong hành trình đưa di hài đến Áo Môn và đến Roma. Tuy nhiên, có lẽ "phép lạ" lớn nhất chính là chỉ trong ba năm, một thiếu niên vô danh đã trở thành một môn đệ tuyệt vời và một chứng nhân anh dũng của Chúa Giêsu.

Xưa, trên đà nam tiến của dân tộc Việt Nam, Á Thánh Anrê Phú Yên đã mở ra một chiều kích mới cho cả dân tộc là tiến đến với Thiên Chúa. Ðúng một năm sau, hai thầy giảng Inhaxu và Vinxentê cũng lãnh triều thiên tử đạo. Rồi đoàn chứng nhân hơn một trăm ngàn vị tử đạo trong những thế kỷ tiếp theo. Nay, trên đà phát triển kinh tế và văn hoá, có thể dân tộc Việt Nam cũng như cả loài người vẫn chờ mong những Anrê Phú Yên mới, những con người chân đứng trên mặt đất, mắt hướng lên trời cao, Thánh Danh Chúa Giêsu trào dâng từ những trái tim vừa trong sáng, vừa nồng hậu. Với dáng dấp nhỏ nhắn nhưng rắn rỏi, như chính Hội Thánh và dân tộc Việt Nam hôm nay, mặc dù đi trước về sau, ngài mãi mãi là "người chứng thứ nhất", một tín hữu Việt Nam tiêu biểu mà chúng ta ước mong là Chúa Giêsu cũng như nhân loại có thể tìm lại được trong hàng triệu cháu con của dòng giống Lạc Hồng hôm nay.

Hiển Linh, 19-2-2000


This website is best viewed with Internet Explorer 5.50 or above. If your browser does not display
Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows
Last updated: Mar 01, 2008
webmaster@lavangparish.org