|
|
|||||
![]() ![]() |
|||||
![]() |
Lm. Paolo Molinari, S.J. Ðây là bài viết của Lm. Paolo Molinari, S.J. - Thỉnh nguyện viên án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê, Lm. Giuse Trần Ðức Anh, O.P. chuyển ý. Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Ðức Gioan Phaolô II sẽ tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng. Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức về Thầy vẫn không suy giảm. Trái lại, tấm gương của Thầy Anrê vẫn là một nguồn mạch nâng đỡ và khích lệ đích thực cho các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam, giúp đỡ họ sống phù hợp và trung thành với đức tin, mặc dù đất nước phải trải qua nhiều thăng trầm phức tạp và khó khăn. * Thầy Giảng Anrê và Hội Các Thầy Giảng của Cha Ðắc Lộ Thực vậy, nếu để ý tới lịch sử sóng gió tại vùng địa lý này, một miền hồi thế kỷ XVII được gọi là Ðàng Trong (Cocincina), người ta có thể hiểu tại sao khuôn mặt Thầy Giảng Anrê đã và vẫn còn là điểm tham chiếu có giá trị quan trọng. Thực vậy, Kitô Giáo được phổ biến rộng rãi, ăn rễ sâu và tiếp tục sinh động tại Việt Nam chính là nhờ công lao và hoạt động của bao nhiêu thế hệ các thầy giảng, nối tiếp nhau qua các thế kỷ, trong việc phụng sự Chúa Kitô và Tin Mừng, cả khi các thừa sai bị trục xuất và các linh mục bản xứ không thể thi hành sứ vụ vì những luật bách hại đạo. Sự hiện diện và hoạt động của các thầy giảng tại Việt Nam có liên hệ tới công trình truyền giáo của một tu sĩ dòng Tên nổi tiếng là cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes)(1). Công trình của cha đối với Việt Nam cũng như công trình của cha Matteo Ricci đối với Trung Hoa, và cha Roberto de Nobili đối với Ấn Ðộ. Cha Ðắc Lộ là một trong những vị thừa sai đã biết tạo điều kiện, và hơn nữa, đã mang lại cho Việt Nam một trong những đóng góp quan trọng về văn hoá : chỉ cần nhắc tới sự kiện cha Ðắc Lộ đã soạn cuốn từ điển đầu tiên về ngôn ngữ được sử dụng tại Việt Nam và phát triển hệ thống chữ viết ngày nay là chữ quốc ngữ. Chính cha Ðắc Lộ là người đã thấy rõ rằng có được các linh mục một cách trường kỳ là một điều rất khó đối với Việt Nam, vì thế, cha đã quyết định khởi xướng và thành lập Hội Các Thầy Giảng, gọi là "Nhà Ðức Chúa Trời", trong đó các thành viên quyết tâm, bằng lời hứa chính thức và công khai (một lời thề), trọn đời phụng sự Giáo Hội qua việc giúp đỡ các linh mục và truyền bá Tin Mừng. * Các nguồn sử liệu về Thầy Anrê Trong số các nguồn sử liệu nói về cuộc đời của Thầy Giảng Anrê trước khi Thầy bị bắt ngày 25-6-1644 và chịu tử đạo sau đó, có hai Bản Tường Trình do cha Ðắc Lộ viết và được coi là có giá trị nhất. Không nên ngạc nhiên về điều này, vì chính cha Ðắc Lộ là người đã biết Thầy Anrê từ lâu và thân thiết hơn bất kỳ người nào khác kể lại chứng từ về chàng thanh niên Việt Nam này. Những gì chúng ta biết được qua cha Ðắc Lộ về Thầy Anrê, về cuộc đời và cách sống đạo của Thầy trước khi chịu tử đạo, cũng như chính cuộc hành hình Thầy phải chịu, cũng được xác nhận qua các lời cung khai của những người làm chứng trong cuộc Ðiều Tra theo Giáo Luật, diễn ra tại Macao từ 16 tháng 12 năm 1644 đến 13 tháng giêng năm 1645, tức là không đầy sáu tháng sau khi vị Tôi Tớ Chúa bị sát hại. Vì thế, đó là những tin tức đầu tay và hơn nữa, rất gần với thời gian Thầy Anrê sống và chịu tử đạo. Bản Tường Trình thứ nhất của cha Ðắc Lộ, ngắn hơn bản thứ hai, đề ngày 1 tháng 8 năm 1644, nghĩa là 5 ngày sau khi Thầy Anrê bị sát hại. Bản đó do nhà truyền giáo thời danh soạn ra sau khi đích thân chứng kiến tất cả các biến cố : cầm tù, kết án tử hình và hành quyết Thầy Anrê. Vì vậy, đó là tài liệu cổ kính nhất chúng ta có được về tất cả những sự kiện xảy ra trong những ngày đau thương, 25 và 26 tháng 7 năm 1644. Cha Ðắc Lộ giao Bản Tường Trình này cho viên thuyền trưởng chiếc tàu Bồ Ðào Nha sắp rời khỏi Ðàng Trong để đi Macao. Tàu tới đảo này ngày 13 tháng 8 năm 1644. Qua Bản Tường Trình ấy, cha Ðắc Lộ thuật lại cho các bề trên ở Macao những gì xảy ra trong công cuộc truyền giáo của cha và đồng thời xin các vị đón nhận di hài Thầy Anrê mà, vì lý do an ninh, cha đã cho chở trên chiếc tàu đó tới Macao(2). Bản Tường Trình thứ hai, dài và chi tiết hơn, được cha Ðắc Lộ soạn sau khi trở về Âu Châu và được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng(3). Về những gì liên quan tới các dữ kiện thu thập trong Công Vụ cuộc Ðiều Tra theo Giáo Luật ở Macao về cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê, cũng nên nhấn mạnh tới một số chi tiết đặc biệt liên quan tới cuộc bắt giam, cầm tù và kết án tử hình vị Tôi Tớ Chúa : các sự kiện này xảy ra trong vòng 48 tiếng đồng hồ (ngày 25 và 26-7-1664), và không diễn ra kín đáo, trái lại rất công khai. Vì thế, nhiều người đã chứng kiến những sự kiện ấy, nên họ có thể và trong thực tế, họ đã để lại những lời tuyên bố chính xác và chi tiết. Các chứng từ ấy không thể chê trách được điều gì xét về phương diện pháp lý và lịch sử, do đó chúng rất có giá trị. Ðó là 23 bản cung khai có tuyên thệ được Toà Án của Giáo Hội ở Macao thu thập : Công Vụ của cuộc Ðiều Tra này được soạn bằng tiếng Bồ Ðào Nha, và theo thói quen của Bộ đặc trách về các án phong thánh, các văn kiện ấy phải được chuyển dịch. Trong số tất cả các bản cung khai ấy, cần ghi nhận có 7 bản do những chứng nhân tận mắt kể lại, tức là những người đã đích thân chứng kiến không những điều đã xảy ra trước hoặc sau cuộc hành quyết vị Tôi Tớ Chúa, nhưng nhất là chính cuộc hành quyết. Các bản cung khai khác do 16 nhân chứng gồm những thương gia, thuỷ thủ, binh sĩ, đến Hội An (Faifo) trên chiếc tàu do thuyền trưởng João de Rezende de Figueiroa điều khiển. Vì thế, họ là những người ở gần kề nơi hành quyết Thầy Anrê, và do đó, họ biết được cuộc hành quyết do một số nhân chứng tận mắt, và điều đó xảy ra không phải từ lâu, nhưng chỉ mới vài tiếng đồng hồ sau các biến cố đau thương. Trong số những người đã chứng kiến các biến cố ấy, hiển nhiên là có nhiều người khác, dân chúng địa phương, nhưng vì lý do ngôn ngữ, nên họ không được triệu đến để làm chứng trong Cuộc Ðiều Tra, xét vì Cuộc Ðiều Tra này do những nhân vật người Bồ thi hành. Ngoài những điều được thu thập và ghi nhận trong Công Vụ cuộc điều tra theo Giáo Luật, còn có hai bản cung khai ngoài cuộc điều tra, có chứng thực hẳn hoi, do một khách thương người Ý tên là Orazio Massa, và một người Việt Nam, Louis Ðuôn (Duón), hai người đã chứng kiến tận mắt cuộc tử đạo của Thầy Anrê. Nhưng họ không có mặt ở Macao khi diễn ra cuộc Ðiều Tra và vì thế, họ không thể được triệu tới để cung khai tại Toà. Những tài liệu phong phú về cuộc bắt giam, cầm tù, lên án tử hình và hành quyết Thầy Anrê, cũng như về lòng kiên trung trong đức tin của vị tử đạo, quả là một điều hiếm có, nếu không muốn nói là độc nhất vô nhị, trong việc thu thập tài liệu về các án phong các vị Tử Ðạo. Thật vậy, chỉ có một số rất ít trường hợp trong đó các chứng nhân tận mắt, sau khi chứng kiến cuộc tử đạo của một người, cung khai chính thức theo đúng quy luật về những gì họ đã thấy và nghe được. * Vài nét về đời sống Thầy Anrê Thầy Giảng Anrê, gốc tỉnh RanRan (Phú Yên), là con út của một phụ nữ tên thánh là Gioanna. Tuy goá bụa nhưng bà đã giáo dục con cái với tất cả lòng tận tuỵ và khôn ngoan. Anrê là một cậu bé mảnh khảnh, nhưng tư chất rất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn hướng chiều về sự thiện. Do lời năn nỉ của bà mẹ, cha Ðắc Lộ, vị Linh Mục thừa sai dòng Tên nổi tiếng, đã nhận cậu Anrê vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và chẳng bao lâu trổi vượt các bạn đồng môn. Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với mẹ ba năm trước khi bà qua đời, tức là năm 1641, khi Anrê được 15 tuổi. Anrê sinh năm 1625 hay 1626, không rõ ngày tháng, và lúc chịu chết năm 1644, Thầy trạc độ 19 hay 20 tuổi. Theo các Bản Tường Trình của cha Ðắc Lộ, một năm sau khi chịu phép Rửa Tội, tức là năm 1642, Anrê được cha Ðắc Lộ nhận vào nhóm cộng sự viên thân tín của ngài, và sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hoá, Anrê bắt đầu thi hành công tác thầy giảng. Về tầm quan trọng và sự nghiêm chỉnh của nhóm thầy giảng này, chúng ta có những tin tức rất chính xác, do chính cha Ðắc Lộ cung cấp qua tài liệu ngài gửi cho các bề trên, để tường trình cho các vị về diễn tiến công cuộc truyền giáo ở Ðàng Trong từ tháng 7 năm 1642 cho đến tháng 7 năm 1643. Bên cạnh hai Kitô hữu trưởng thành tận tuỵ rao giảng Tin Mừng, còn có một nhóm những người trẻ hơn, theo gương các vị đứng tuổi, cũng tuyên thệ công khai tại nhà thờ là sẽ cộng tác vào việc cứu vớt các linh hồn, dưới sự hướng dẫn của các thừa sai hoặc những vị do các ngài chỉ định(4). Trong số những người trẻ ấy có Thầy Anrê. Theo tất cả các văn kiện và chứng từ đầu tay chúng ta có được, Thầy là một thanh niên đã được Chúa Giêsu Kitô chinh phục, và đáp lại tình yêu Chúa, Thầy tận hiến cho Chúa, và qua đó, thực hành bước tiến căn bản của việc bước theo Chúa Kitô (sequela Christi) một cách chân thực, hiểu theo nghĩa mạnh nhất của từ này. Trong nhóm các thầy giảng, Thầy Anrê là nhân vật đứng thứ hai, sau một thầy đã đứng tuổi. Nhưng qua chứng từ trình bày trong cuộc Ðiều Tra, người ta biết Thầy Anrê thi hành một công tác quan trọng hơn trong Hội các tín hữu Kitô dấn thân như thế. Như ta đã thấy rõ qua những biến cố đưa tới cuộc tử đạo của Thầy Anrê, điều hiển nhiên là Thầy đã nhập tâm những nguyên tắc hướng dẫn hoạt động của các thầy giảng và sống các nguyên tắc ấy một cách tận tình. Khi để ý tới những điều đó, ta sẽ không ngạc nhiên khi đọc thấy điều đã được một số nhân chứng kể lại trong cuộc Ðiều Tra về sự tử đạo của Thầy Anrê. Một số nhân chứng ấy đã ba lần gặp Thầy Anrê trong nhà của cha Ðắc Lộ, nhân dịp họ du hành đến Ðàng Trong. Vì thế, họ có thể quan sát cách thức Thầy phục vụ cộng đoàn ở Hội An, lòng nhiệt thành xả thân của Thầy, với tất cả lòng trung thành, hăng say trong việc giảng dạy đức tin Kitô cũng như trong việc cử hành phụng tự của nhóm các tín hữu. Rồi chính Thầy cũng được nhiều người biết đến như một tín hữu Kitô siêng năng lãnh nhận bí tích Thống Hối và Thánh Thể. Vì thế, ta có thể và phải kết luận rằng, lòng hăng say của Thầy Anrê sống trọn quyết tâm khi chịu phép Rửa đã chuẩn bị cho Thầy can đảm đương đầu với cuộc tử đạo và ngoan ngoãn đón nhận ơn tử đạo Thiên Chúa rộng ban cho Thầy. * Diễn tiến cuộc làm chứng cho Chúa Kitô Dựa trên những tài liệu phong phú đã nói trên đây, chúng ta biết rõ diễn tiến và sự liên kết giữa các biến cố có liên quan trực tiếp tới những ngày cuối cùng của Thầy Giảng Anrê và cái chết anh dũng của Thầy(5). Trước cuối tháng 7 năm 1644, Quan Nghè Bộ trở lại tỉnh nơi Thầy Giảng Anrê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kitô trong nước. Vì thế Quan quyết định hành động trước tiên chống lại các thầy giảng. Cha Ðắc Lộ, khi biết Quan trở về dinh, nhưng không hề hay biết ý định của Quan, nên tới thăm Quan vì xã giao và để củng cố những quan hệ tốt đẹp đã có trước đó. Sau khi cho Thầy Anrê được ở lại nhà để săn sóc 4 bệnh nhân, cha Ðắc Lộ xuống thuyền đến dinh Quan Nghè Bộ. Khi đến gần, cha gặp khách thương người Ý tên Orazio Massa. Nét mặt rất lo âu, ông cho cha Ðắc Lộ biết : Quan cùng với các thẩm phán khác đang mưu toan chống lại cha và các tín hữu Kitô, và ông xin cha hãy ẩn tránh, để đừng diễn ra điều đã xảy ra hôm trước cho ông trùm, cũng tên thánh là Anrê, ông ấy đã bị bắt và đang bị cầm tù. Cha Ðắc Lộ, sau khi ra lệnh cho những người tháp tùng hãy mau lẹ trở về, quyết định đến chào thăm Quan và thương thảo với ông. Nhưng Quan cho cha biết ngay rằng : chúa Ðàng Trong rất giận dữ khi thấy vì cha mà nhiều dân bản xứ theo đạo Kitô. Vì thế cha phải bỏ xứ Ðàng Trong để trở về Macao và không được phép dạy giáo lý cho dân bản xứ nữa, còn các tín hữu theo đạo thì bị trừng phạt rất nặng nề. Thấy rằng thảo luận với Quan từ nay chỉ mất thời giờ, nên cha Ðắc Lộ rời dinh Quan Nghè Bộ, đi thẳng xuống nhà tù nơi giam giữ một ông trùm già 73 tuổi tên là Anrê, mới bị bắt hai ngày trước đó. Cha muốn ở cạnh và nâng đỡ ông trong cảnh tù, thân phận mà ông chấp nhận trong thanh thản và vui tươi vì lòng yêu mến Chúa Kitô. Trong khi ấy, một toán lính khác được Quan sai tới nhà cha Ðắc Lộ để lùng bắt một thầy giảng khác tên là Ignatio. Nhưng thầy Ignatio đã đi làm việc tông đồ trong một thời gian ngắn. Khi lính ập vào nhà, họ chỉ tìm thấy Thầy Anrê trẻ. Ðể khỏi trở về dinh Quan Bộ tay không, lính đánh đập Thầy Anrê, trói Thầy lại, rồi giải xuống thuyền đem về dinh Quan trấn thủ. Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, Thầy được dẫn tới trước mặt Quan. Lính thưa với Quan rằng họ không tìm thấy thầy Ignatio, nhưng đã bắt được "một thầy giảng khác cũng giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kitô và khuyến khích họ theo đạo"(6). Nghe vậy Quan tìm nhiều cách làm cho Thầy Anrê "từ bỏ cái đạo điên rồ đó và bỏ lòng tin". "Nhưng thanh niên can trường ấy trả lời Quan rằng mình là Kitô hữu, và rất sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không từ bỏ đạo mình tuyên xưng. Vậy xin Quan cứ tuỳ ý chuẩn bị các hình cụ, tôi vui lòng đón nhận, với xác tín rằng, vì chính nghĩa, càng chịu khổ đau chừng nào thì càng chết vinh quang chừng ấy"(7). Tức giận vì sự bất khuất của Thầy Anrê không hề sợ hãi trước những lời đe doạ, Quan truyền đóng gông(8) và giải Thầy vào ngục, cùng nơi giam giữ ông trùm Anrê. Cha Ðắc Lộ cho chúng ta biết tâm trạng của hai người khi viết rằng : "Thật không thể giải thích được niềm vui của hai tù nhân này lớn lao dường nào khi thấy mình được liên kết với nhau, được vinh dự mang gánh nặng của Thập Giá vì niềm tin nơi Chúa Kitô. Những lời chúc tụng họ tiếp tục dâng lên Thiên Chúa vì ân huệ ấy, những cuộc nói chuyện đầy lòng yêu mến, qua đó, họ khích lệ nhau trong mong ước và nhắn nhủ nhau sẵn sàng cho trận chiến tương lai, với những tâm tình sùng mộ khác tương tự như vậy, người ta có thể tưởng tượng dễ hơn là giải thích"(9). Cha Ðắc Lộ và một vài thương gia Bồ Ðào Nha tới nhà giam hai tù nhân : Thầy Anrê trẻ thanh thản và vui mừng khi được chịu khổ đau vì Chúa Kitô đến độ những người đến thăm Thầy bịn rịn, không rời Thầy được, và nước mắt tràn mi, họ xin Thầy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện. Thấy vậy, Thầy tự nhạo cười mình và xin họ cầu nguyện cho Thầy, để Chúa ban cho Thầy ơn trung thành với Chúa cho đến chết, "dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu thương vô biên của Chúa, Ðấng đã hiến mạng sống vì loài người... Những lời Thầy luôn lặp lại cho đến khi trút hơi thở cuối cùng là : "Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống", và Thầy nói điều đó với tất cả lòng yêu mến làm cho Thầy cảm động rơi lệ"(10). Sáng hôm sau, 26 tháng 7 năm 1644, hai tín hữu Kitô cùng tên Anrê, Anrê già 73 tuổi và Anrê trẻ, cổ mang gông, bị dẫn qua các đường phố đông người qua lại nhất trong thành, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh Quan trấn thủ để bị tra hỏi công khai. Quan trấn triệu tập một vài Quan khác, lôi kéo họ về phía mình và tuyên án tử cho Thầy Giảng Anrê trẻ, rồi ra lệnh dẫn Thầy trở về ngục thất. Còn ông trùm Anrê thì được tha vì lý do tuổi tác, nhờ lời xin của cha Ðắc Lộ và các thương gia Bồ Ðào Nha. Vào khoảng 5 giờ chiều, một viên chỉ huy cùng với 30 người lính vào nhà tù, nơi vị Tôi Tớ Chúa bị giam giữ, và ra lệnh cho Thầy phải đi theo tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người hiện diện trong tù, Thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính vây chặt chung quanh và dẫn Thầy Anrê đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài thành. Cha Ðắc Lộ, cùng nhiều Kitô hữu Bồ Ðào Nha và Việt Nam cũng như nhiều người lương đã đi theo và chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa. Ðến nơi hành hình, Thầy Anrê quỳ xuống. Quân lính vây quanh tứ phía, họ tháo gông cho Thầy và trói hai tay Thầy lại. Trong khi đó, theo thói quen tại đây, cha Ðắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới người Thầy Anrê để hứng lấy máu Thầy, nhưng Thầy Anrê không muốn nhận điều ấy, Thầy muốn máu mình rơi xuống đất, như trường hợp máu cực trọng Chúa Kitô đã đổ ra. Cha Ðắc Lộ tôn trọng quyết định của Thầy Anrê và quỳ xuống cạnh Thầy. Trong khi đó, Thầy Anrê nhắn nhủ các Kitô hữu hiện diện hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của Thầy, và hãy giúp lời cầu cho Thầy được trung thành tới cùng. Cuộc hành quyết Thầy Anrê được thi hành bằng mấy nhát lao đâm thấu cạnh sườn bên trái, và sau cùng khi một người lính sắp dùng đao chém đầu, Thầy lớn tiếng kêu lên "Giêsu". Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trung trong việc chấp nhận hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô. Sau khi cuộc hành quyết hoàn tất, cha Ðắc Lộ, người đã chứng kiến tất cả diễn tiến vụ hành hình kinh khiếp ấy, xin được thi hài của Thầy Anrê và đưa xuống tàu mang sang Macao và an táng tại đây ngày 15 tháng 8 năm 1644. Mặc dù tất cả những thăng trầm xảy ra tại Việt Nam từ ngày đó đến nay, các tín hữu Công Giáo Việt Nam không bao giờ quên Thầy Giảng Anrê, và họ tiếp tục coi Thầy là vị tử đạo đầu tiên của đất nước họ, và cầu nguyện, xin Thầy chuyển cầu cho họ nơi toà Chúa để được sức mạnh can đảm sống phù hợp với đức tin và trung thành với ơn gọi Kitô hữu. * Niềm mong ước của Giáo Hội Việt Nam đối với cuộc tử đạo của Thầy Anrê Ý thức về lòng mộ mến sinh động hơn bao giờ hết và đã có từ lâu của các tín hữu đối với Thầy Giảng Anrê tử đạo, các Giám Mục Việt Nam, khi về Roma dự Công Ðồng Chung Vatican II, đã xin Ðức Thánh Cha Phaolô VI đẩy mạnh án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê. Các vị bày tỏ xác tín rằng việc tôn phong này là một trong những phương thế hữu hiệu nhất để phát triển nơi các tín hữu lòng gắn bó sâu xa với Giáo Hội. Các Giám Mục Việt Nam cũng nhấn mạnh sự kiện Thầy Giảng Anrê là một thanh niên Công Giáo, từ 16 tuổi, đã dâng hiến cuộc sống để giúp các linh mục trong việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô tại Việt Nam. Các Giám Mục nêu bật điều này : tấm gương của Thầy Giảng Anrê, qua thái độ bình thản và cương quyết chấp nhận tử đạo, là một trợ lực mạnh mẽ cho những người, giống như Thầy, đang chịu đau khổ để bảo vệ đức tin và lòng trung thành với Chúa Kitô và với Giáo Hội. Do sự can thiệp trên đây của các Giám Mục Việt Nam, Văn Phòng Thỉnh Nguyện Viên án phong Thầy Giảng Anrê đã quyết tâm thực hiện các cuộc nghiên cứu cần thiết để đẩy mạnh án phong. Rồi vào năm 1997, Văn Phòng đã được Bộ Phong Thánh nhìn nhận Công Vụ cuộc Ðiều Tra diễn ra tại Macao trong những năm 1644-1645. Sau khi bổ túc các dữ kiện và tin tức mà Công Vụ này mang lại, cùng với thành quả các cuộc nghiên cứu lịch sử thực hiện ở Âu Châu và Á châu, Văn Phòng Thỉnh Nguyện Viên đã soạn Tập Hồ Sơ về cuộc tử đạo, gồm 2 cuốn, và đã đệ trình Bộ Phong Thánh để xin cứu xét. Trước hết, các vị Cố Vấn Sử Học, rồi tới các vị Cố Vấn Thần Học, đều đồng thanh bày tỏ ưng thuận và nói rằng bằng chứng cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê thật là rõ ràng. Phán quyết chung kết này cũng được các Hồng Y và Giám Mục thành viên của Bộ Phong Thánh đồng ý. Sau khi được vị Tổng trưởng Bộ Phong Thánh thông báo đầy đủ về kết quả tích cực, Ðức Thánh Cha đã cho công bố Sắc Lệnh về cuộc tử đạo của Thầy Giảng Anrê, và ngài quyết định cho tiến hành lễ phong chân phước tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 5 tháng 3 năm 2000. * CHÚ THÍCH 1. Cha Ðắc Lộ, dòng Tên, sinh tại Avignon bên Pháp năm 1591 và gia nhập dòng ở Roma. Ðược gửi đi truyền giáo tại Viễn Ðông, sau khi sống 3 năm tại Ấn Ðộ và 9 tháng tại Malacca, cha tới Macao năm 1623, bắt đầu học tiếng Nhật để chuẩn bị hoạt động truyền giáo tại Nhật Bản; nhưng rồi cha được các bề trên gửi tới phần đất ngày nay gọi là Việt Nam. 2. Relação do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchina, alenceado, e dogolado em Cachão aos 26 Julho de 1644. Tendo de idade dezanove anos, nguyên văn tiếng Bồ đào nha của cha Ðắc Lộ, ghi ngày 1.8.1644 tại xứ Ðàng Trong: Ms. Marid, Real Acedemia de la Historia, Jesuitas, leg.21 bis, fasc.17, foll. 228-234v (originale?); AHSI, JAP./SIN: 71, foll.262-265; Lisbona, Biblioteca da Ajuda, Jesuistas na Asia, Vol.40/V/13, foll.218v-223. Relatione del glorioso Martirio di Andrea Catechista Protomartire della Cocinchina, patito alli 26 Luglio 1644, AHSI, JAP./SIN.69, foll.25-38v. 3. Martyrium Andreae Cathechistae qui primus in Regno Cocincinae pro Christi fide sanguine fudit a P. Alexandro DE RHODES Societas Jesu descriptum, Ms SHSI, JAP./SIN. 70, foll.127-138. [Alexandre de Rhodes, S.J.], Relatione della morte di Andrea Catechista che primo de Christiani nel regno di Cocincina è stato ucciso dagl'infedeli in odio della fede, alli 26 di Luglio 1644, descritta dal Padre Alessandro de Rhodes della Compagnia di Giesu, Roma, per gli Heredi del Corbellitti, 1652, 3 f.+42p. +1 f. [Roma, APSI, e Bibl. Nazionale Centrale Vittorio Emmanuele II, coll. 14.26.E.2; Lisbona, Bibl. Nacional, coll. R14164 V]. [Alexandre de Rhodes, S.J.], La glorieuse mort d'André catéchiste de la Cochinchine, qui a le premier versé son sang pour la querelle de Jesus-Christ, en cettte nouvelle Eglise, par le P. Alexandre de Rhodes, qui a toujours été présent à toute cette histoire, Paris, Sébastien et Gabriel Cramoisy, 1653, 122 tr. [Alexandre de Rhodes, S.J.], Relação de morte do catequista André, proto-martir de Cochinchina, [dịch ra tiếng Bồ từ văn bản tiếng Ý ấn hành ở Roma năm 1652, của Miguel Serras Pereira], Macao, Tipog. da Missão, 1978, 27pp.;, e in Boletim Eclesiástico da Diocese de Macau, s. 76, 1978, tr. 237-262. 4. x. Missão de Cochincina desde fim de Julho de 1642 ate o fim de de 1643, thủ bút của cha Ðắc Lộ S.J., đề ngày 15.11.1643 tại Macao, ở Văn Khố sử học của dòng Tên ở Roma, coll. Jap./Sin. 71, foll.224-237. 5. Xem Congregatio de Causis Sanctorum, Prot. N.1022, Danangen. Olim Cocincin. Beatificationis seu Declarationis Martyrii Servi Dei Andreae, viri laici et catechistae, Proto-Martyris de Vietnam, Positio super Martyrio, 2 coll., Roma 1998. 6. Tường Trình thứ hai, Positio, t.I, tr. 92. 7. như trên 8. Chính cha Ðắc Lộ đã mô tả chiếc gông này (x. Positio, tr. 91). Gông gồm hai cây gỗ tròn, mỗi cây dài khoảng 12 gang tay, chúng được xếp đặt như một cái thang với bốn thang ngang nhỏ, mỗi đầu cây gỗ tròn có hai thanh ngang nối vào nhau, trong khi hai thang ngang khác được đặt ở giữa gông cách đều nhau kẹp vào cổ tù nhân. 9. đd, tr. 93 10. x. Positio, tr.126. | ||||
![]() |
![]() Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows Last updated: Mar 01, 2008 webmaster@lavangparish.org |
||||