|
|
|||||
![]() ![]() |
|||||
![]() |
VĂN HOÁ ÐƯƠNG ÐẠI VIỆT NAM Phạm Thị Bích Hằng, O.P. Bài viết này trích từ luận văn Tốt Nghiệp Ðại Học của nữ tu Phạm Thị Bích Hằng, cựu sinh viên khoa Ðông Nam Á học, đại học Mở Bán Công Tp. Hồ Chí Minh. Luận văn này được các giáo sư đánh giá cao và đạt điểm tối ưu (10/10) trong buổi thuyết trình vào tháng 9-10 vừa qua. Chúng tôi xin được phép giới thiệu vài chương để độc giả có thêm kiến thức về vấn đề thờ cúng tổ tiên trong xã hội Việt Nam hiện nay và sự đóng góp của sự hội nhập văn hoá vào nền văn hoá dân tộc của Kitô giáo. I. MỞ ÐẦU 1. MỤC ÐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ÐỀ TÀI Trải qua bao thăng trầm của những chặng đường lịch sử, các quốc gia trên thế giới được hình thành, được bảo tồn và phát triển theo một thể thức đặc thù, một bối cảnh riêng biệt. Chính trong triều đại lịch sử mà mỗi dân tộc đã có những thành tựu, chắt lọc được những giá trị vật chất cũng như tinh thần từ những mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội, từ những sinh hoạt hằng ngày cùng những sinh hoạt tín ngưỡng để kết tinh nên nền văn hoá cho dân tộc mình. Cho nên, văn hoá là gia sản mà quốc gia nào cũng có, nhưng văn hoá cũng là yếu tố thiết yếu tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia với nhau. Vì thế, đánh mất văn hoá là đánh mất chính mình. Nói đến văn hoá là nói đến một phạm trù hết sức to lớn bao gồm tất cả mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất của con người ; đồng thời nói đến những vấn đề được đặt ra xoay quanh phạm trù văn hoá thì cũng rất đa dạng. Cho nên, trong phạm vi bài này tôi chỉ nhắm nghiên cứu một vấn đề thuộc về văn hoá đó là về vấn đề tôn kính tổ tiên trong nền văn hoá đương đại Việt Nam. Ðây cũng là một chân giá trị trong nền văn hoá lâu đời của bản địa, nó đã từng giữ một vị trí và vai trò thiết yếu cho nền văn hoá chúng ta. Nó giúp củng cố và gìn giữ những giá trị đạo đức xã hội, thắt chặt tình liên đới cộng đồng thông qua từng dòng họ và giáo dục con cháu học hỏi những gương sáng của tổ tiên. Với việc nghiên cứu, tôi muốn thể hiện khát vọng khôi phục những giá trị truyền thống mà tín ngưỡng đem lại. Từ đó góp phần xây dựng một xã hội phát triển toàn diện và vững chắc hơn. 2. LÝ DO CHỌN ÐỀ TÀI Thật vậy, vấn đề tôn kính tổ tiên trong nền văn hoá đương đại Việt Nam rất cần được quan tâm, nó mang đầy đủ hai chiều kích ý nghĩa khoa học và thực tiễn và đây cũng là lý do để tôi chọn đề tài này. a. Ý nghĩa khoa học : Tuy điểm xuất phát của việc tôn kính tổ tiên là một trong những tín ngưỡng dân gian nhưng nó vẫn mang tính khoa học lịch sử tồn tại lâu dài của nó trong nền văn hoá Việt Nam, mang lại những giá trị thiết thực cho nền văn hoá ấy và là một thành phần lớn trong nền văn hoá này. Vì thế tín ngưỡng thờ kính tổ tiên cần được nghiên cứu một cách hết sức nghiêm túc, nhất là khi nghiên cứu về bản sắc văn hoá Việt Nam thì không thể bỏ qua thành phần quan trọng này. b. Ý nghĩa thực tiễn : Từ những yêu cần cấp bách đang đặt ra cho xã hội chúng ta mà nhu cầu khôi phục, gìn giữ những giá trị thuộc về bản sắc văn hoá Việt Nam đang là vấn đề nóng bỏng. Ðặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng có sứ mạng củng cố những mối liên hệ gia đình, duy trì những giá trị đạo đức xã hội của một con người. Xác định vị trí, vai trò và giá trị của việc tôn kính tổ tiên trong nền văn hoá đương đại Việt Nam sẽ là một trong những tiền đề góp phần tạo nên những phương pháp hữu hiệu khắc phục những vấn đề xã hội đang đặt ra ; đồng thời giúp tạo lập một ý thức nhất định cho mọi người về tầm quan trọng của việc gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ÐỀ Lược qua những tác phẩm bàn về văn hoá Việt Nam, ít nhiều đều đề cập đến những tín ngưỡng lớn của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Riêng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được đề cập đến khá nhiều. Tuy nhiên, các tác phẩm ấy ít đề cập đến vị trí vai trò cũng như những giá trị thiết thực của việc tôn kính tổ tiên trong đời sống cộng đồng, nhất là những biểu hiện của nó trong đời sống tinh thần hiện nay. Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về vấn đề tôn kính tổ tiên trong nền văn hoá đương đại còn ít ỏi. Dầu vậy, những tư liệu của các tiền bối quý giá, nó là cơ sở nền tảng cho tôi thực hiện công trình nghiên cứu của mình. Tôi không dám khẳng định sẽ lý giải các vấn đề xoay quanh đề tài một cách sâu sắc, đầy đủ, chỉ xin nêu lên một số suy nghĩ bước đầu để mong các bậc cha anh trong giới khoa học có cùng mối quan tâm đến đề tài chỉ dẫn, đóng góp và hoàn thiện hoá công trình mới được chấm phá này. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU Ðể thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tôi sẽ chủ yếu sử dụng những phương pháp sau : phương pháp logic và lịch sử, phương pháp nghiên cứu xã hội học. Những phương pháp thiết yếu này giúp tôi nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác và thấu đáo. IV. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Văn hoá vốn là một lãnh vực không có biên giới rõ rệt, không có một lãnh thổ, chỉ thuần tuý tồn tại một nhân tố văn hoá, nhưng văn hoá thường đan xen, chồng chất lên những nhân tố khác. Cho nên, dù là nghiên cứu về vấn đề tổ tiên trong nền văn hoá đương đại Việt Nam, nhưng nhiệm vụ mà tôi tự đề ra cho mình là đi tìm những giá trị của việc tôn kính tổ tiên còn tồn tại trong nền văn hoá hiện nay. Theo nhiệm vụ nghiên cứu ấy và do hạn chế về khả năng lẫn thời gian, tôi chỉ xin nghiên cứu đề tài trong phạm vi một nhóm xã hội tiêu biểu : Cộng đồng Thiên Chúa giáo, một cộng đồng mà nhiều người cho rằng ở đó không có vần đề tôn kính tổ tiên ; để thông qua việc khảo sát vấn đề tôn kính tổ tiên trong cộng đồng này và đối chiếu với dân cư không phải là Thiên Chúa giáo nói chung, rút ra tính phổ quát và khu biệt của tín ngưỡng bản địa lâu đời này ; Ðồng thời qua đó nêu lên được những giá trị nào của việc tôn kính tổ tiên còn đang tồn tại trong cuộc sống cư dân bản địa cũng như trong nền văn hoá đương đại Việt Nam. NỘI DUNG THỜ KÍNH TỔ TIÊN - MỘT TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT 1.1. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ kính tổ tiên Tín ngưỡng thờ kính tổ tiên vốn là một tín ngưỡng lâu đời của người Việt, nó cũng là một yếu tố văn hoá của cư dân thiên về tình cảm và trực quan hơn là lý trí và suy luận. Ðồng thời, thờ kính tổ tiên ở Việt Nam ngày càng được củng cố thêm bằng những cuộc giao thoa văn hoá. Nhưng, không ai phủ nhận rằng tín ngưỡng thờ kính tổ tiên có một nguồn gốc, có một quá trình hình thành, có một mảnh đất sống khá lý tưởng, để nó có thể trở thành một bản sắc văn hoá không thể thiếu của người Việt Nam. 1.1.1. Mô hình "làng huyết tộc" mảnh đất thích hợp cho sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của các tín ngưỡng thờ kín tổ tiên Cơ sở vật chất cho việc hình thành tín ngưỡng thờ kính tổ tiên được sản sinh trong một môi trường hết sức đặc thù của người Việt Nam - đó là môi trường "làng". Sự gắn kết này chặt chẽ và quan trọng đến mức có thể "bán anh em xa mua láng giềng gần", đây chỉ là một kiểu nói cho thấy tần quan trọng của việc thiết lập mối tương quan giữa người với người trong làng, chứ không hàm ý hạ thấp vai trò của họ hàng, vì lẽ "khác máu thì cũng tanh lòng" và "một giọt máu đào hơn ao nước lã", họ hàng vẫn có một chỗ đứng khá vững chắc trong mối tương quan của họ. Ðặc tính của làng Việt Nam là đơn vị độc lập tự quản tự lập về tất cả mọi lĩnh vực : văn hoá, phong tục, kinh tế, tổ chức sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng. Người Việt yêu mến làng bằng một tình cảm hết sức thiêng liêng, ít ai muốn rời xa xóm làng, phải rời bỏ làng là một điều bất đắc dĩ. Chính trong sự gắn kết ngày càng chặt chẽ đó, mà người Việt càng gắn bó với tổ tiên hơn, bởi vì làng được hình thành trên nền tảng huyết thống, có mở rộng nhưng lại mở rộng trong phạm vi bên trong "luỹ tre làng" và như thế tính huyết thống như được củng cố thêm, và những người trong làng vẫn thường cách này cách khác đều có họ với nhau. Trong mảnh đất màu mỡ ấy, tín ngưỡng thờ kính tổ tiên được hình thành và phát triển, cũng chính tín ngưỡng này lại làm cho hình thái làng được bền vững hơn. Như thế, tín ngưỡng thờ kính tổ tiên có một vai trò không nhỏ trong việc duy trì môi trường gia tộc và môi trường làng. Tín ngưỡng thờ kính tổ tiên cũng là một quá trình hình thành, nhưng muốn thấy được quá trình đó thì điều đầu tiên cần xác định là vai trò của tổ tiên đối với từng thành viên trong cộng đồng. 1.1.2. Vai trò của tổ tiên đối với từng cá nhân trong cộng đồng Tổ tiên đối với người Việt đặc biệt quan trọng, ngay từ xa xưa bài học làm người đầu tiên trong các trường làng, và cũng là bài học nằm lòng của họ là : Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu, Người ta nguồn gốc từ đâu ? Có cha có mẹ rồi sau có mình" Tình cảm đối với tổ tiên dòng họ rất xâu xa tha thiết, đã trở thành một tín ngưỡng riêng và rất khởi sắc ở bản địa, nó là biểu tượng lòng thành của người sống thế hệ sau đối với thế hệ trước. Bởi lẽ, tổ tiên cha mẹ không chỉ là người sinh thành ra con cái mà còn là người dưỡng dục con cho đến tuổi trưởng thành. Chính với quan niệm "chim có tổ người có tông" mà trong tâm thức người Việt tình cảm tổ tiên, về nguồn cội là điều rất quan trọng, nó là cho người ta cảm thấy có một chỗ dựa vững chắc và không mặc cảm bơ vơ giữa cuộc đời và xã hội. Tình cảm tổ tiên dòng họ đã từng trở thành những phương thức điều chỉnh hành vi của các thành viên. Mỗi dòng họ có một truyền thống riêng do tổ tiên để lại, truyền thống nào càng được bảo lưu lâu dài bao nhiêu thì truyền thống đó càng có nguồn cội sâu xa bền vững bấy nhiêu và các thành viên không có quyền phá vỡ. Tổ tiên dù đã mất đi, nhưng ảnh hưởng của tổ tiên không bao giờ mất. Người Việt tin hồn tổ tiên vẫn "hiện diện" trên bàn thờ nơi đặt bài vị. Bên cạnh đó, dưới cái nhìn của xã hội, thờ kính tổ tiên đồng nghĩa với việc thể hiện chữ hiếu, mà nết hiểu là nết đầu trong luân lý của người Việt. Một mặt đạo hiếu vun đúc tinh thần gia tộc, nhưng mặt khác đạo hiếu cũng là một yếu tố tạo sự tin tưởng với bà con xóm giềng. Nếu tổ tiên cha mẹ mà cư xử không ra gì thì không thể sống với ai được nữa. Vì thế, chu tất việc cúng giỗ cũng là để cho chòm xóm khỏi dị nghị. 1.1.3. Các yếu tố cơ bản cấu thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Việc cúng giỗ còn là biểu hiện một mối dây liên đới mật thiết giữa tổ tiên - người đã khuất và con cháu - người còn sống. Cúng giỗ chính là điểm gặp gỡ giữa vũ trụ hữu hình và thế giới linh thiêng, hồn tổ tiên vẫn lui về với gia đình khi con cháu đứng trước bài vị để lễ gia tiên. Một yếu tố khác góp phần cấu thành tín ngưỡng thờ kính tổ tiên mang chiều kích đạo đức nhân bản đó là tinh thần "uống nước nhớ nguồn" ghi nhớ công ơn cha mẹ tổ tiên đã gầy dựng cuộc đời cho con cháu. Sự cúng bái của con cháu xuất phát từ tinh thần "báo bản tôn tổ", nên càng chu toàn việc cúng giỗ bao nhiêu thì lòng con cháu càng an tâm thanh thảnh bấy nhiêu. Chính vì yếu tố cúng giỗ để báo hiếu mà nhiều người cho rằng thờ cúng tổ tiên là thực hiện nếp sống đạo đức và tâm linh, nhưng không phải là tôn giáo vì không có giáo lý, giáo hội, giáo đường hay giáo chủ (Nguyễn Ðăng Duy, Văn Hoá Tâm Linh, tr.195). Vì thế, thờ cúng tổ tiên vừa mang ý nghĩa phong tục vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng. Tuy nhiên, để xác định mức độ nào là tín ngưỡng và mức độ nào là phong tục là điều không thể được bởi cả hia không hề có một ranh giới nhất định nào. Hơn nữa, cũng chẳng có một văn bản chính thức nào quy định điều đó, mà suốt nhiều ngàn năm qua ai hiểu rằng thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng cũng được, hay hiểu rằng đó là phong tục thuần tuý cũng chẳng sao. Cho nên, chúng ta đừng để mình bị kẹt giữa hai chiều kích đó, nhưng cần nhìn tới cốt lõi của vấn đề cũng là cốt lõi của văn hoá Việt Nam là cái tâm của con người sống với nhau, cái tâm ẩn chứa trong mối quan hệ ruột thịt, máu mủ. Ðây là điểm độc đáo của văn hoá Việt Nam hình thành ngay từ thời Văn Lang Âu Lạc. Vào thời kỳ khai sinh, đất nước chúng ta đã được xây dựng trên nền tảng hoà bình, không có chiến tranh hay xâm chiếm, bao gồm những bộ tộc đồng ý sống chung dưới sự lãnh đạo của một "thầy cúng" xưng là Hùng Vương. Vì thế, người Việt vốn hiền hoà, tình cảm, người với người sống chung gần gũi và chết rồi cũng vẫn còn hiểu hiện đâu đó luẩn quẩn quanh người sống. Tin hay không tin thì điều đó vẫn được diễn tả qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, và đó chính là yếu tố nuôi dưỡng hồn người Việt Nam. 1.1.4. Ý nghĩa và, mối liên hệ giữa hôn nhân và tang ma xoay quanh việc thờ cúng tổ tiên Ý nghĩa lớn nhất của tín ngưỡng là việc thể hiện chữ "lễ" trong gia đình cũng như trong đời sống từng thành viên. Tín ngưỡng này đã làm cho nhiều ngôi nhà trở thành từ đường, tạo một không gian linh thiêng nhưng đó cũng chính là môi trường văn hoá truyền thống. Khi thực hiện việc cúng giỗ tổ tiên còn giúp tạo được sự đoàn kết trong môi trường gia tộc, là dịp để họ hàng nhận biết nhau, ôn lại truyền thống dòng họ. Sự đoàn kết dòng họ chính là tiền đề cho việc hợp thành cội nguồn và sức mạnh của làng xóm quê hương, lòng tự hào về quê hương bắt nguồn từ lòng tự hào ấy. Ðiều quan trọng một đời người và được quan tâm nhiều nhất là hôn lễ và tang ma. Chính vì thế, hôn lễ là "hỉ" và tang ma là "hiếu", một lễ là vui và một lễ là buồn. Nhưng cả hai có một mối liên kết hết sức mật thiết. Người ta kết hôn là để sinh con hình thành một gia đình mới. Nhưng việc sinh con cũng hàm ý là để có người thay thế người chết, vì vậy trong hôn lễ xưa có tục nhà cưới dâu hay gả con gái thì ba ngày không cười. Người con dâu, nhất là dâu trưởng mang một trọng trách hết sức quan trọng là phải tìm mọi cách để cho chồng có con trai. Người con trai ấy không thuần tuý chỉ là người nối dõi mà còn là người có bổn phận hành lễ cúng sau này. Vì thế, trong hôn lễ khi đón dâu về việc đầu tiên là lễ gia tiên. Ý nghĩa của lễ gia tiên không chỉ hàm ý báo cho tổ tiên việc "hỷ" của gia đình, hay trình tổ tiên một thành việc mới gia nhập dòng họ mà còn để trình tổ tiên một người sẽ có nhiệm vụ sinh con để cúng giỗ tổ tiên. Ðây là một hành vi chính yếu của việc thờ tự trong gia đình, là điều kiện tất yếu vốn sẽ bảo đảm cho bao thế hệ tổ tiên việc cúng quảy lễ vật các vị cần dùng, và do đó chi phối hạnh phúc các thành viên trong gia đình ở dương gian sự an tĩnh của tổ tiên (Cadière, Về văn hoá và tín ngưỡng truyền thống người Việt, tr. 58).Vì vậy, nếu không có hôn nhân, việc cúng tế bị đứt đoạn thì gia đình cũng tàn lụi. Với ý nghĩa và những mối liên hệ ở hai nghi lễ căn bản là tang ma và hôn lễ, càng làm bật lên tầm quan trọng của ông bà tổ tiên đối với con cháu, người Việt tin rằng tổ tiên vẫn hiện hữu bên cạnh họ và có thể chi phối mọi sinh hoạt lớn bé trong đại gia đình tông tộc. Ðồng thời, tổ tiên cũng là mối giây liên kết mọi thành viên trong cùng một dòng tộc, dòng tộc nào càng quan tâm chu đáo với tổ tiên thì dòng tộc đó càng gắn bó với nhau chặt chẽ hơn. Khi xác định được nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cũng như xác định được giai đoạn hình thành, thấy được sự tồn tại của nó qua các thời kỳ lịch sử. Chúng ta còn thấy người Việt nói riêng và người Phương Ðông nói chung luôn luôn có cái nhìn âm dương, trong cái nhìn đó đã hình thành nên nhiều tín ngưỡng ; mà ba tín ngưỡng lớn nhất của họ là tín ngưỡng bái vật linh, tín ngưỡng phồn thực, và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. 1.2. Thờ cúng tổ tiên là một trong những tín ngưỡng lớn của dân cư nông nghiệp trồng lúa nước Các nhà nghiên cứu đồng ý rằng, cư dân nông nghiệp có ba tín ngưỡng lớn : Tín ngưỡng bái vật linh, tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên, ba tín ngưỡng ấy tồn tại ở môi trường Việt Nam đã mang những sắc thái rất đặc thù. Tín ngưỡng thứ ba là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Ðây là tín ngưỡng có sau hai tín ngưỡng bái vật linh và phồn thực, nhưng lại là tín ngưỡng đặc sắc nhất trong văn hoá Việt Nam. Nếu như cho đến nay, tín ngưỡng bái vật linh và tín ngưỡng phồn thực không còn tồn tại như thuở ban đầu do sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có sự chi phối của quá trình giao thoa. Cả hai tín ngưỡng này hầu như không còn có biểu hiện rõ ràng mà chỉ bàn bạc đâu đó với những cách thức thể hiện không chính thức, rời rạc, rải rác trong một số sinh hoạt của cư dân, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên lại tồn tại khá nguyên vẹn ; những thay đổi về hình thức tôn kính tổ tiên do sự thăng tiến của con người cũng như do sự hội nhập văn hoá cũng chỉ là để củng cố thêm cái vốn đã có của tín ngưỡng bản địa. Việc ra đời sau của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên lại là một lợi thế cho tín ngưỡng này. Bên cạnh đó, giá trị to lớn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đối với từng cá nhân, gia đình và xã hội làm cho nó có đủ sứ mạng trụ được với thời gian cũng như với sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, tín ngưỡng bái vật linh và tín ngưỡng phồn thực không bị mất đi nhưng được ẩn chứa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ; tín ngưỡng này luôn bao hàm sự tôn trọng thiên nhiên và tôn trọng sự sống, hai đặc tính cốt lõi của hai tín ngưỡng bái vật linh và phồn thực. Vì thế, ba tín ngưỡng lớn của bản địa không hề đứng độc lập mà chan hoà vào nhau đúng theo tính chất vốn có của văn hoá bản địa : tính hoà. Tính chất ấy được tồn tại trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng là tính chất của văn hoá Việt Nam. Ðặc điểm này đã tạo nên tính "trường tồn" của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và làm cho tín ngưỡng vừa mang tính phổ quát vừa mang tính khu biệt khi "len lỏi" vào trong từng nhóm nhỏ xã hội hiện diện trên đất Việt. 1.3. TÍNH PHỔ QUÁT VÀ TÍNH KHU BIỆT CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN 1.3.1. Tính phổ quát của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Như đã nói, tình cảm đối với tổ tiên vốn mang tính tự nhiên và tính thiêng liêng, nó đã trở thành tín ngưỡng bản địa, đồng thời cũng là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống con người, gắn chặt với con người, trở thành một phần trong tâm thức con người Việt Nam. Vì thế, không ai là không kính trọng tổ tiên và tổ tiên là một thành phần chủ đạo trong gia đình người Việt. Tính phổ quát của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn thể hiện nơi các nhóm nhỏ xã hội, các nhóm mang những niềm tin tôn giáo và lý tưởng khác nhau, nhưng lại đồng nhất với nhau trong việc báo hiếu ông bà tổ tiên. Nói cách khác, mọi nhóm nhỏ xã hội đều phải coi việc tôn kính tổ tiên là điều không thể thiếu, ngay cả những nhóm xã hội có tín ngưỡng ngoại lai nếu muốn tồn tại đều phải hội nhập văn hoá, trong đó tôn kính tổ tiên là một trong những yếu tố cơ bản của nền văn hoá bản địa, là yếu tố mà mọi nhóm xã hội phải hội nhập trước tiên. Bởi vì, "Vạn thiện hiếu vi tiên" trong muôn ngàn điều thiện, chữ hiếu vẫn đứng trên hết. Nhìn chung, việc tôn kính báo hiếu tổ tiên là một nét văn hoá hết sức phổ biến nơi người Việt Nam ; nó ăn sâu trong tâm hồn người Việt và còn trở thành một tín ngưỡng bản địa, một tín ngưỡng tồn tại lâu dài và được phát lộ rõ ràng cụ thể trong hành vi của mọi người. Tôn kính tổ tiên đã len lỏi vào trong mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo và mọi nhóm xã hội bằng cách này hay cách khác. Hơn nữa, bất kỳ một tôn giáo nào hay một nhóm xã hội nào nếu muốn tồn tại trên mảnh đất nhiều ngàn năm văn hiến này, mảnh đất mà việc báo hiếu tổ tiên đã trở thành bản sắc văn hoá của họ đều không được phép loại bỏ yếu tố thiết yếu ấy. 1.3.2. Tính khu biệt của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Tôn kính tổ tiên mang tính chất phổ quát, nhưng lại cũng rất khu biệt trong các hình thức thể hiện nơi từng nhóm nhỏ xã hội. Bởi vì nó còn phụ thuộc vào niềm tin và quan niệm cụ thể của từng nhóm xã hội này. Chính đặc tính khu biệt của những hình thức thể hiện việc báo hiếu tổ tiên đã tạo nên sự phong phú đa dạng và khởi sắc của tín ngưỡng bản địa. Ðồng thời, cho thấy yếu tố văn hoá bản địa đã đi vào trong từng nhóm xã hội một cách khéo léo như thế nào. Ðiểm cơ bản tạo nên sự khu biệt đặc thù nơi các tôn giáo và các nhóm xã hội là quan niệm về hồn và nơi ở của hồn sau khi chết. Tuy thế, điểm gặp gỡ chung nơi mọi tôn giáo và các nhóm xã hội là yếu tố báo hiếu tổ tiên và nhận thức tầm quan trọng của tổ tiên đối với con cháu. Nhưng khu biệt giữa các nhóm này được thể hiện trong cách thức báo hiếu tổ tiên. Ðể chứng minh cho luận điểm trên, tôi sẽ chọn trình bày những đặc trưng cơ bản trong việc tôn kính tổ tiên của nhóm xã hội tiêu biểu. Nhóm xã hội mà tôi muốn chọn để trình bày là cộng đồng Thiên Chúa giáo, một cộng đồng vẫn được xem như không có truyền thống tôn kính tổ tiên. Nhưng, như đã nói mọi nhóm xã hội dù theo tín ngưỡng nào khi tồn tại trên mảnh đất Việt Nam phải đều phải có những thích ứng nhất định với văn hoá bản địa. Thực ra các tôn giáo chân chính đều mong muốn dạy người khác làm những điều thiện, do đó việc thảo hiếu với ông bà cho cha mẹ phải là điều không thể bị tôn giáo bỏ qua. Song, có thể những tôn giáo coi điều đó là lẽ thường tình của một con người nên không đặt nặng vấn đề tôn kính tổ tiên trong tôn giáo mình, chứ không có nghĩa là bỏ qua việc đó. Như ở Thiên Chúa giáo do nhấn mạnh đến việc thờ phượng một Thiên Chúa, mọi cái đều quy về vị thần này, và trong lịch sử du nhập Thiên Chúa giáo vào Việt Nam cũng có những hiểu biết chưa đúng về tín ngưỡng bản địa gây nên sự hiểu lầm và cho ra đời những văn bản cấm cử hành các nghi lễ thờ cúng tổ tiên với mục đích bài trừ mê tín. Nhưng sự cấm đoán vô tình làm cho người ta hiểu rằng Thiên Chúa giáo cấm báo hiếu tổ tiên. Ðể thấy rõ vấn đề hơn, tôi sẽ dựa vào những dữ liệu lịch sử để trình bày vấn đề tôn kính tổ tiên trong cộng đồng Thiên Chúa giáo tại Việt Nam. VẤN ÐỀ TÔN KÍNH TỔ TIÊN TRONG CỘNG ÐỒNG THIÊN CHÚA GIÁO TẠI VIỆT NAM 2.1. CƠ SỞ VÀ ÐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TÔN KÍNH TỔ TIÊN TRONG THIÊN CHÚA GIÁO Tôn kính tổ tiên trong Thiên Chúa giáo có cơ sở nền tảng trong chính giáo lý của họ, nhưng họ không thể nhấn mạnh cùng một lúc hết mọi yếu tố trong giáo lý ấy. Ðiều mà họ quan tâm nhiều nhất là làm sao cho mọi tín đồ hiểu đúng về Thiên Chúa. Họ tin Chúa, nhưng mọi ngôn ngữ diễn tả về vị thần này thật phiếm diện. Cho nên họ rất dè dặt trong ngôn ngữ khi định nghĩa về Chúa của họ, vì chỉ sai đi một chút cũng làm cho người nghe dễ ngộ nhận Chúa của họ là một biến thái của một vị thần khác ở một tôn giáo nào đó. Do đó, họ chú tâm tìm hiểu về Thiên Chúa hơn là nhấn mạnh đến những điểm khác. Còn vấn đề báo hiếu tổ tiên là điều thuộc về con người, đương nhiên mọi người phải qua tâm, giáo lý Thiên Chúa giáo đã đề ra những gì mà mọi tín đồ phải giữ, để chu toàn chữ hiếu đối với ông bà cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời và Thiên Chúa giáo cho như thế là đủ, không nhất thiết phải giải thích gì thêm. 2.1.1. Cơ sở của việc tôn kính tổ tiên trong Thiên Chúa giáo Trong kho tàng tác phẩm của Thiên Chúa giáo, Kinh Thánh là bộ sách được trân trọng nhất. Người Thiên Chúa giáo xem đó là "lời của Thiên Chúa" bao hàm những sứ điệp mà Thiên Chúa muốn chuyển trao cho họ. Bộ Kinh Thánh gồm hai phần : Cựu Ước và Tân Ước, đó cũng là cơ sở nền tảng cho giáo lý và giáo luật của Thiên Chúa giáo. Bộ Kinh Thánh có ý nghĩa rất quan trọng đối với người Thiên Chúa giáo, trong đó họ tìm thấy cơ sở niềm tin của họ, tìm thấy lời chỉ dạy về một cách sống, một cách ứng xử với Thiên Chúa và với con người, mà tương quan với con người thì bao gồm những tương quan với : cha mẹ, anh em, vợ chồng, bạn hữu, và cả kẻ thù. Ở đây người viết chỉ bàn về mối tương quan với cha mẹ được Kinh Thánh diễn tả để thấy được nền tảng cơ sở đã xây nên việc tôn kính tổ tiên trong Thiên Chúa giáo. Bộ luật đầu tiên được Kinh Thánh ghi lại là bộ luật thập giới hay còn gọi Mười Ðiều Răn. Thập giới quy định rõ ràng thái độ phải có đối với Thiên Chúa và đối với con người. Sau ba điều đầu tiên dạy người ta cách thờ phượng Thiên Chúa thì điều thứ tư là điều buộc tín đồ phải thảo hiếu cha mẹ (Kinh Thánh, sách Xuất Hành, chương 21, trang 15-16). 2.1.2. Ðặc trưng của việc tôn kính tổ tiên trong Thiên Chúa giáo Ðể thấy được những đặc trưng của Thiên Chúa giáo trong việc tôn kính tổ tiên, thì điểm đầu tiên cần bàn đến là quan niệm của Thiên Chúa giáo về hồn và sự tồn tại của hồn sau khi chết. Những ai sạch và làm việc lành thì vào Thiên Ðàng, và người Thiên Chúa giáo gọi các vị ấy là "các đẳng linh hồn". Người Thiên Chúa giáo tin rằng, các Thánh trên Thiên Ðàng, những người đang sống ở tại thế, và những linh hồn dưới luyện ngục có mối liên hệ mật thiết với nhau. Các Thánh sẽ cầu bầu cùng Thiên Chúa cho những người đang sống, người đang sống có thể làm việc lành, đọc kinh, dâng lễ để lập công phúc với ý hướng dành cho các linh hồn nơi luyện ngục, và các linh hồn dùng những công phúc ấy để đền những tội đã trót phạm trên trần gian khi còn sống, sau khi đền đủ sẽ được lên Thiên Ðàng. Sở dĩ phải nhờ đến người sống lập công phúc thay vì các linh hồn sau khi qua đời không tự mình làm được gì được nữa, không thể nào tự đền tội mình được, nên phải nhờ đến con cháu. Tuy nhiên, linh hồn dưới luyện ngục dù không thể tự lập công chuộc tội, nhưng có thể cầu bầu cùng Chúa chúc phúc cho người sống, và lời cầu bầu ấy vẫn được Chúa chấp nhận. Từ niềm tin này mà trong Thiên Chúa giáo, con cháu có những hình thức báo hiếu riêng với ông bà tổ tiên đã qua đời. Việc tang ma giỗ chạp trong cộng đồng Thiên Chúa giáo có nhiều yếu tố hội nhập của văn hoá bản địa. Các dịp giỗ trọng như giỗ bảy tuần, giỗ trăm ngày, giỗ đầu, giỗ mãn tang là những yếu tố hội nhập của văn hoá bản địa. Những mốc thời gian ấy vốn là truyền thống lâu đời của người Việt Nam và người Thiên Chúa giáo ở Việt Nam cũng vẫn giữ những truyền thống ấy. 2.2. Quá trình du nhập Thiên Chúa giáo vào Việt Nam Ðiểm khởi đầu đặt nền tảng cho Thiên Chúa giáo tại Việt Nam là vào thế kỷ XVI, khi các vị thừa sai theo chân các thương gia Bồ Ðào Nha vào buôn bán trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, trong thế kỷ XVI này, việc du nhập Thiên Chúa giáo chưa có gì đáng lưu tâm, những vị thừa sai chỉ mới "thử nghiệm" truyền giáo trên mảnh đất này. Chỉ khi bước sang thế kỷ XVII, thì hoạt động của các thừa sai có rầm rộ hơn, thời kỳ này được nhiều nhà sử học gọi là thời kỳ đặt nền móng cho "Giáo Hội Việt Nam", với công lao những vị thừa sai tên tuổi mà đa số thuộc Dòng Tên. Giai đoạn này, các vị thừa sai Dòng Tên là những người hoạt động tích cực trong công cuộc truyền giáo, các vị đã xây dựng nền móng cho Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, các vị này chủ trương, tìm cách thích nghi với văn hoá địa phương, như cho đặt bàn thờ ông bà và cổ võ đọc kinh,làm phúc trong ngày lễ giỗ kỵ, nhưng không cho giáo dân cúng thực phẩm và đốt vàng mã. Bên cạnh đó, các vị thừa sai còn tìm cách học hiểu chữ Nôm, từ việc học ấy các vị đã nghiên cứu văn phạm để hình thành chữ quốc ngữ cho người Việt Nam. Cho nên, khi nói đến tiếng Việt người ta nghĩ ngay đến công lao của vị thừa sai tên là Alexandre de Rhodes mà người Việt gọi là cha Ðắc Lộ. Thiên Chúa giáo ở Việt Nam vào thời kỳ này còn góp phần làm phong phú kho tàng văn hoá của đất mẹ bằng việc sản sinh ra rất nhiều hình thức sinh hoạt nghệ thuật. Ðến thế kỷ XX, vị thừa sai nổi bật trong giai đoạn này là linh mục Leopold Cadière. Ngài vừa thực hiện sứ vụ truyền giáo, vừa nghiên cứu phong tục, tập quán, lịch sử, nghệ thuật bản địa. Ngày nay hội khoa học và lịch sử Việt Nam đang thu nhập những tác phẩm của ngài, những tác phẩm ấy còn có giá trị chứng minh cho nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá có bản sắc riêng, chứ không phải là một "tổng hợp" của các nền văn hoá Trung Hoa - Ấn Ðộ như nhiều nhà khoa học Phương Tây trước đây lầm tưởng. Trong suốt giai đoạn du nhập của Thiên Chúa giáo, Việt Nam đang sống dưới chế độ phong kiến suy vong, thoái hoá và cát cứ, những chế độ phong kiến ấy vẫn giữ được những truyền thống Nho giáo đã khắc đậm trong cơ cấu cũng như trong tổ chức của họ. Truyền thống Nho phong vẫn được chân trọng và bảo tồn. Việc thờ cúng tổ tiên được đặc biệt coi trọng. Một trong những yếu tố tạo nên sự va vấp trong quá trình du nhập Thiên Chúa giáo chính là sự đối kháng giữa Nho giáo và tôn giáo mới mẻ này. 2.3. Ðiểm tương đồng và khác biệt giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng bản địa về vấn đề tôn kính tổ tiên 2.3.1. Những khác biệt trong cách lý giải về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam của các vị truyền giáo Nhìn qua quá trình Thiên Chúa giáo không cho thực hiện những nghi lễ cúng giỗ tổ tiên, chúng ta nhận thấy nguyên nhân dẫn đến điều này là do Thiên Chúa giáo sợ người giáo hữu của mình mê tín dị đoan. Cho nên Thiên Chúa giáo chỉ cấm những hành vi mê tín chứ không cấm báo hiếu tổ tiên. Bở vì, ngay trong giáo lý của Thiên Chúa giáo vấn đề báo hiếu tổ tiên được khuyến khích. Tuy nhiên, việc báo hiếu phải được thực hiện trong khuôn khổ phù hợp với niềm tin Thiên Chúa giáo, mọi hình thức xa lạ với niềm tin này đều bị đặt trong vòng nghi vấn, cần được xem xét. 2.3.2. Ðiểm tương đồng và khác biệt giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng bản địa về vấn đề tôn kính tổ tiên 2.3.2.1. Ðiểm khác biệt giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng bản địa về vấn đề thờ kính tổ tiên Khác biệt đầu tiên là khác biệt trong quan niệm về hồn và sự tồn tại của hồn sau khi chết : Trong quan niệm của Thiên Chúa giáo, một khi con người có chết thì con người vẫn là con người chỉ khác ở chỗ tồn tại trong thế giới của họ một cách vô hình. Thế giới của họ cũng không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, nó không là một nơi chốn cụ thể. Với cách thức tồn tại ấy và vì những người đã chết vẫn còn là con người nên họ không có quyền giáng phúc cho ai, và cũng chẳng có quyền làm hại ai và càng không có quyền báo thù ai. Ðiều duy nhất mà tổ tiên ông bà có thể làm cho người thân và con cháu hay những người đã giúp đỡ họ đang còn sống là họ sẽ cầu bầu cùng Chúa giáng phúc cho những người ấy. Cũng trong quan niệm Thiên Chúa giáo, thì tổ tiên dù vẫn còn tương quan với con cháu, vẫn biết được những biến cố đang diễn biến trong dòng họ mình, nhưng tổ tiên không thể trực tiếp can thiệp, ngay cả việc về với con cháu cũng rất hiếm hoạ, vì tổ tiên lúc này ở dưới quyền Chúa, chỉ khi Ngài cho về mới được về. Theo quan niệm của bản địa, sau khi chết con người chỉ tồn tại bằng hồn, ở một nơi gọi là chín suối. Ở nơi đó, tổ tiên ông bà vẫn sống một cuộc sống tương tự như ở trần gian. Với quan niệm như thế, một cách nào đó người Việt tin rằng tổ tiên dù chết rồi vẫn chi phối đến cuộc sống của con cháu. Trong quan niện của người Việt, tổ tiên can thiệp vào những biến cố trong dòng họ, có thể về bất cứ lúc nào, nhất là khi con cháu đứng trước bài vị mời ông bà về với con cháu, thì họ tin rằng ông bà sẽ về ngự nơi bàn thờ và con cháu cần chuẩn bị cỗ bàn sẵn sàng để ông bà hưởng dùng. Những khác biệt trong hình thức thể hiện : Với quan niệm tổ tiên chỉ hưởng dùng những công phúc, nên trong Thiên Chúa giáo, giỗ chạp thường chú trọng đến việc xin lễ, đọc kinh chung và làm những việc lành, để chỉ về ông bà tổ tiên. Họ ít quan tâm đến việc sửa soạn đồ cúng, tuyệt đối không đốt vàng mã. Việc giỗ chạp cũng không phân biệt giai cấp, vì cứ có người qua đời là gia đình tổ chức lễ giỗ, không cứ người chết đó thuộc hàng nào. Chính vì thế mà giỗ chạp trong Thiên Chúa giáo không chỉ để báo hiếu mà còn là một cách biểu lộ tình thương nhân ái đối với người đã qua đời nơi những người sống. Xét đến hình thức cúng giỗ của người Việt, do tin rằng tổ tiên còn hưởng dùng những của cúng nên việc chuẩn bị giỗ và đồ cúng được coi trọng. Việc cúng giỗ cũng phân biệt giai cấp, nếu người chết thuộc hàng thấp hơn người sống thì không buộc phải cúng giỗ, có cũng được mà không có cũng được. 2.3.2.2. Ðiểm tương đồng giữa Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng bản địa và vấn đề thờ cúng tổ tiên Ðiểm tương đồng đầu tiên là quan niệm chết không phải là hết. Vì tin rằng chết không phải là hết nên Thiên Chúa giáo lẫn tín ngưỡng bản địa lại gặp nhau ở một điểm chung nữa là luôn tin rằng tổ tiên vẫn sẽ còn quan tâm đến con cháu, vẫn quan tâm đến những biến cố vui buồn của dòng họ, vẫn còn duy trì mối tương quan với những người đang sống và luôn "cần" đến người sống ; một bên cần người sống lập công phúc đền tội thay ; bên kia cần người sống dâng cúng đồ lễ để có cái sử dụng nơi suối vàng. Cho dù quan niệm như thế nào, niền tin theo tôn giáo hay tín ngưỡng, thì việc giỗ chạp trước hết là cách thức để báo hiếu tổ tiên. TÔN KÍNH TỔ TIÊN - NHỮNG GIÁ TRỊ CÒN TỒN TẠI TRONG NỀN VĂN HOÁ ÐƯƠNG ÐẠI VIỆT NAM Trong chương này tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học trong hai nhóm xã hội tiêu biểu là cộng đồng Thiên Chúa giáo và cư dân không thuộc nhóm Thiên Chúa giáo để tìm hiểu vấn đề. 3.1. NHỮNG ÐẶC TRƯNG CỦA VIỆC TÔN KÍNH TỔ TIÊN TRONG CỘNG ÐỒNG THIÊN CHÚA GIÁO ÐƯƠNG ÐẠI Từ những phân tích các bảng điều tra xã hội, có thể đúc kết những đặc trưng cơ bản của việc tôn kính tổ tiên trong cộng đồng Thiên Chúa giáo việt Nam đương đại như sau : - Trong ý thức người Thiên Chúa giáo Việt Nam, tổ tiên vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng, vẫn chiếm giữ một vị trí trong gia đình dòng họ. Ðồng thời họ thấy cần phải quan tâm và báo hiếu tổ tiên. - Người Thiên Chúa giáo Việt Nam có một cách thức báo hiếu riêng phù hợp với quan niệm và niềm tin của họ là những nghi lễ của Thiên Chúa giáo. Ðồng thời, những nghi lễ thuộc về phong tục dân tộc đã mờ nhạt dần, riêng tục đốt vàng mã, cúng cơm thì tuyệt đối không còn. - Cộng đồng Thiên Chúa giáo có một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, giúp cho sự liên đới mật thiết giữa linh mục và tín đồ, nên vị linh mục phát huy được hiệu năng của vai trò lãnh đạo cộng đồng, từ đó dễ dàng duy trì được những truyền thống tôn kính tổ tiên thông qua nhắc nhở, khuyến khích trong khi hành lễ. 3.2. NHỮNG ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VIỆC TÔN KÍNH TỔ TIÊN TRONG CƯ DÂN KHÔNG PHẢI LÀ THIÊN CHÚA GIÁO NÓI CHUNG Trong giới hạn của thời gian, người viết không thể nào có được một nghiên cứu thấu đáo từng nhóm xã hội riêng biệt, mà chỉ có thể tìm hiểu chung việc nghiên cứu tổ tiên trong cư dân, trừ nhóm xã hội Thiên Chúa giáo. Người viết sẽ trình bày từng vấn đề theo trình tự giống như đã trình bày trong phần trước (3.1). Từ những số liệu thu được, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ kính tổ tiên còn tồn tại trong giai đoạn hiện nay như sau : Tổ tiên vẫn giữ một vai trò quan trọng trong từng gia đình dòng họ, và trong ý thức cư dân người ta vẫn cảm thấy cần quan tâm và báo hiếu tổ tiên. Những nghi lễ cúng giỗ không nhất thiết phải tổ chức long trọng, miễn là bảo đảm được tinh thần "báo bản tôn tổ" là đủ. Nhiều hình thức trong tổ chức cúng giỗ hay bày biện trên bàn thờ gia tiên được giản lược đi rất nhiều. Báo hiếu vẫn là yếu tố mang ý nghĩa chủ đạo khi cư dân chu toàn việc cúng giỗ tổ tiên. 3.3. NHỮNG GIÁ TRỊ CÒN TỒN TẠI CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ KÍNH TỔ TIÊN TRONG NỀN VĂN HOÁ ÐƯƠNG ÐẠI VIỆT NAM. Khi đặt tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vào trong khuôn khổ của nền văn hoá đương đại Việt Nam, chúng ta cần xác định vị trí, vai trò và giá trị của nó trong giai đoạn hiện tại này, cũng như xác định những dự báo tương lai cho sự tồn tại của tín ngưỡng ấy. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài tôi chỉ có thể khái quát về vị trí và vai trò của tín ngưỡng. Ðiểm mà tôi nhắm đến là muốn trình bày về giá trị của tín ngưỡng để thấy được sự cần thiết phải duy trì tín ngưỡng trong mức độ thích hợp. 3.3.1. Vị trí và vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong nền văn hoá Ðương đại Việt Nam Cho đến nay, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn giữ nguyên vị trí và vai trò của nó như xưa trong nền văn hoá đương đại Việt Nam. Cho dù trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều chế độ xã hội ; có khi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như bị chìm xuống nhưng vẫn không mất đi. Ðiều mà chúng ta cần tìm hiểu là những giá trị nào của việc tôn kính tổ tiên còn tồn tại trong nền văn hoá đương đại, vì chỉ khi tìm ra đâu là những giá trị cần bảo lưu thì mới có thể bảo tồn được tính chất thiết yếu của tín ngưỡng bản địa. Vậy chúng ta cần tìm cho ra những giá trị nào đang còn tồn tại ? Chúng tồn tại ở mức nào ? Những giá trị nào đã bị bỏ quên cần lấy lại ? Và những gì có thể làm để củng cố, hoàn chỉnh tín ngưỡng để nó phù hợp với nền văn hoá đương đại Việt Nam. Qua những phân tích số liệu thống kê, có thể rút ra những giá trị còn tồn tại trong đời sống dân cư nói chung đó lá ý thức về tầm quan trọng của tổ tiên đối với con cháu. Không ai phủ nhận rằng tổ tiên là không cần thiết, vì cho dù tổ tiên không hiện hữu bằng xương bằng thịt, nhưng tổ tiên vẫn là nguồn cội của một dòng họ, là mắt xích quan trọng để nối những con người chia sẻ chung một dòng máu, là bằng chứng về một truyền thống lâu đời, về những giá trị đạo đức xã hội tốt đẹp mà tổ tiên đã xây dựng và đã sống. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt từ xưa đã mang hai chiều kích. Chiều kích phong tục và chiều kích tín ngưỡng. Trong giai đoạn đương đại, những biểu hiện của việc tôn kính tổ tiên nghiêng về chiều kích phong tục nhiều hơn, người ta thực hiện việc cúng giỗ nhằm báo hiếu là chủ yếu ; còn chiều kích tín ngưỡng liên quan đến niềm tin coi tổ tiên như là "một vị thần gia đình" thì đã mờ nhạt khá nhiều. Giá trị tiếp theo là việc từ thiện trong ngày giỗ đã được một số ít người thực hiện cần phát huy trong cộng đồng. Thực ra khi đề cập đến giá trị này, tôi không có ý cổ võ người dân chỉ làm việc từ thiện trong những ngày giỗ, nhưng ta muốn đề nghị thêm một cơ hội nữa cho công việc từ thiện nhằm mở rộng ý nghĩa của việc tôn kính tổ tiên từ chỗ củng cố, chặt chẽ mối liên hệ dòng họ tiến đến chỗ mở rộng tình liên đới trong toàn cộng đồng. Tuy nhiên, dù ngày nay trong ý thức cư dân tổ tiên vẫn còn có chỗ đứng thì không có nghĩa là việc tôn kính tổ tiên sẽ không bị mai một. Dựa trên những bảng thống kê, thì hình như những người có gắn bó với một nhóm xã hội nào thì sẽ giữ được những sắc thái truyền thống hơn. Ðó là lẽ đương nhiên, vì khi đã đồng ý sinh hoạt chung trong một nhóm bất kỳ thì muốn thay đổi một yếu tố nào đó đều phải có sự đồng ý của mọi người trong đó. Ðiển hình khi xét việc tôn kính tổ tiên trong cộng đồng Thiên Chúa giáo, tuy có nhiều khác biệt với những nhóm xã hội khác, song việc tôn kính tổ tiên trong cộng đồng của họ có tổ chức, thống nhất và chặt chẽ hơn những người không thuộc nhóm xã hội nào. Việc tôn kính tổ tiên trong cộng đồng của họ còn trở nên một sinh hoạt chung của cả cộng đồng. Ở Phật giáo cũng làm cho việc tôn kính tổ tiên trở thành một sinh hoạt chung của cộng đồng thông qua lễ Vu Lan. Cho nên chính những nhóm xã hội có một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn những yếu tố văn hoá bản địa. Xuất phát từ cơ sở là báo hiếu tổ tiên đã quan đời, xét về tổng thể có hai quan niệm cơ bản là : Một quan niệm tin rằng có sự tồn tại bất tử của kinh hồn và thể hiện niềm tin ấy bằng hình thức thờ cúng ; trong đó lại có hai loại hình khác nhau : Một là chỉ có thờ mà không cúng, như là cộng đồng Thiên Chúa giáo ; hai là có cả thờ và cúng, như nhóm người Việt không thuộc nhóm xã hội nào. Một quan niệm khác không tin vào sự bất tử của linh hồn, nên tình cảm đối với tổ tiên chỉ là "tôn kính", các nghi lễ giỗ chạp của họ chỉ hàm ý tưởng niệm tổ tiên mà thôi, như những người Phật giáo chính thống, hay những ai theo chủ nghĩa cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng, khái niệm thờ mà tôi dùng ở đây là một khái niệm thuần tuý bản địa của người Việt, không hoàn toàn mang nghĩa thờ như thờ một vị thần mà là một cách biểu lộ niềm tin linh hồn tổ tiên còn tồn tại, còn liên hệ với con cháu, và có địa vị cao hơn con cháu. Người Việt thường nói : "thờ cha kính mẹ" thì không có nghĩa là người Việt coi cha là thần và mẹ là thánh, mà chỉ là mộ cách biểu lộ sự kính trọng đối với bậc sinh thành. Nhưng điểm căn bản của tình cảm người Việt là cái tâm của những con người sống với nhau và chết rồi cũng còn luẩn quẩn bên nhau và người Việt sống trọn điều đó, sống trọn tâm tình hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ, tổ tiên luôn là niềm tự hào của con cháu. Trong thời đại hiện nay, việc báo hiếu tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh từng gia đình dòng họ. Tuy nhiên, dù coi trọng hay không coi trọng các nghi lễ cúng giỗ, cũng cần phải đặt đúng bậc thang giá trị của hai phương diện nghi lễ và lòng hiếu thảo đối với tổ tiên : các nghi lễ là lòng hiếu thảo, nhưng lòng hiếu thảo không chỉ lệ thuộc vào cách thức và mức độ thực hành các nghi lễ. Vì thế, việc thờ kính tổ tiên vốn là một bản sắc văn hoá, nhưng giữ gìn bản sắc không có nghĩa là sao nguyên bổn cũ mà cần được kinh qua bộ máy gạn đục khơi trong để tạo nên một sức sống mới, một bước phát triển mới phù hợp với xã hội đương đại. Do đó cần phải xem xét những cách thức tổ chức cúng giỗ, ma chay, cưới hỏi đang có xu hướng đua tranh, khá rườm rà, tốn kém, thể hiện một trình độ hiểu biết thấp kém của một số cư dân hiện nay, để điều chỉnh kịp thời phù hợp với phương châm : dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh của nước ta hiện nay. Tuy tôi đã cố gắng rất nhiều song với hạn chế về khả năng và thời gian nên mới chỉ chấm phá một số vấn đề xoay quanh việc thờ kính tổ tiên trong nền văn hoá đương đại, đề tài còn là một mảnh đất rất rộng, ước mong mảnh đất ấy sẽ tiếp tục được khai phá thêm. Tôi rất mong nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo của quý thầy cô, các bạn và tất cả những ai yêu thích đề tài này, để đề tài ngày càng hoàn thiện hoá và trở nên hữu dụng. | ||||
![]() |
![]() Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows Last updated: Mar 01, 2008 webmaster@lavangparish.org |
||||