Trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương - Ga 13:34
BẢN TIN GIÁO XỨ - THÁNG 08/2003
Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec => 2004 English version

280 Wesley Avenue.
Ottawa, Ontario K1Z 7A6
CANADA

Tel: (613) 729-2313
Email: cdcgvn@lavangparish.org


Lịch Thánh Lễ trong tháng tám - CẦU NGUYỆN CHO THĂNG TIẾN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

01 Thánh Anphongsô Gmts
Thứ Sáu đầu tháng Chuầu Mình Thánh Chúa 6:30 pm.
03 Chúa Nhật 18 Thường Niên
04 Th. Gioan Mary Vianney Linh Mục
05 Lễ Cung Hiến Đền Thờ Đức Bà
06 Lễ Chúa Giêsu Hiển Dung
08 Thánh Đaminh, OP (OP: Lễ Trọng)
10 Chúa Nhật 19 Thường Niên
11 Thánh Clare, Đồng Trinh
13 Th. Potian và Th. Hippolitus Ghtđ
15 Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Bổn mạng giáo xứ Thánh Lễ 7:00 pm.
17 Chúa Nhật 20 Thường Niên
Tiệc mừng bổn mạng giáo xứ sau Thánh Lễ.
21 Thánh Piô X, Giáo Hoàng
20 Th. Bênađô Giám Mục Tiến Sĩ
22 Lễ Đức Maria Nữ Vương
25 Chúa Nhật 21 Thường Niên
27 Thánh Monica
28 Thánh Augustinô Giám Mục Tiến Sĩ
29 Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết.
31 Chúa Nhật 22 Thường Niên



THÔNG BÁO


1. Tiệc Mừng Lễ Bổn Mạng Giáo Xứ:
Tiệc mừng bổn mạng giáo xứ Đức Mẹ La Vang sẽ được tổ chức vào ngày 17 tháng 08 - 2003 sau thánh lễ Chúa Nhật. Mọi chi tiết xin liên lạc với cha xứ.

2. Bổn mạng giáo xứ Đức Mẹ La Vang và ca đoàn Cung Việt:
Ca đoàn Cung Việt và thanh niên sẽ tổ chức Chương Trình Thánh Nhạc vào lúc 8:00 tối thứ Bảy ngày 16 tháng 08-2003. Chương trình trình diễn thánh ca gồm
Trường Ca Tạo Vật : Hải Linh
Trường Ca Ave Maria: Hải Linh thơ Hàn Mặc Tử,
và có phần diễn giải và chiếu hình ảnh.
Xin mời qúy ông bà và anh chị em đến tham dự.

3. Thành lập ban bầu cử:
Hội Đồng Mục Vụ đang chuẩn bị thành lập ban bầu cử HĐMV.
Ban bầu cử :
- Cha xứ
- Một thành viên HĐMV
- Hai thành viên giáo xứ

4. Huynh Đoàn Đa Minh:
Để tạo những sinh hoạt cho Huynh Đoàn và chương trình gây qũy để đóng góp vào dự án xây Đền Thánh Martinô do các Cha phụ tỉnh tại Calgary, Alberta. Huynh Đoàn Đa Minh sẽ tổ chức bán những món ăn Việt Nam vào mỗi Chúa Nhật đầu tháng sau Thánh Lễ Chúa Nhật. Xin ông bà và anh chị em nhiệt tình ủng hộ.

Rửa Tội Trẻ Em:
Đơn xin Rửa Tội trẻ em có để sẵn dưới cuối nhà thờ. Xin trao đơn này cho Cha xứ ít nhất 3 tuần trước ngày Rửa Tội.

Hộp Thơ Góp Ý:
Nhằm mục đích làm việc tốt hơn, xây dựng giáo xứ vững mạnh hơn, và phục vụ có hữu ích hơn, anh em HĐMV luôn lắng nghe, tiếp nhận mọi sự góp ý, phê bình xây dựng. Ông bà anh chị em có thể liên lạc trực tiếp với anh em HĐMV, hay qua hộp thơ góp ý để nơi cuối nhà thờ và hoặc qua e-mail: hdmvgxlavang@yahoogroups.ca.

Hôn Phối:
Anh chị nào dự định thành hôn trong giáo xứ Đức Mẹ Lavang, xin liên lạc với cha xứ 6 tháng trước ngày cử hành thánh lễ hôn phối để lo liệu giấy tờ và buộc phải có giấy chứng nhận đã học lớp dự bị hôn nhân dù là không có đạo.

Ban Phụng Vụ:
* Chị Lương thành viên ban Phụng Vụ được đề cử để mời ông bà anh chị em đọc Thánh Thư và dâng của lễ trong những Thánh Lễ của giáo xứ.
* Giáo xứ cần các em giúp lễ, qúi ông bà anh chị em có con em và muốn cho các em giúp lễ, xin liên lạc với Bác Dũng.

Vấn Đề Lưu Thông:
Xin ông bà và anh chị em lái xe chậm và cẩn thận hơn trên đường Evered và Wsesley trước và sau Thánh Lễ.

Vấn Đề Đậu Xe:
Xin ông bà và anh chị em lưu ý trong vấn đề đậu xe chung quanh nhà thờ trong giờ lễ. Xin đừng đậu xe cản trở lưu thông trong parking và trước nhà thờ cũng như đường phố và driveways nhà dân chung quanh nhà thờ.

Bản Tin Giáo Xứ:
Xin mọi ban ngành trong giáo xứ lưu ý ,khi cần thông báo sinh hoạt trên Bản Tin Giáo Xứ, xin liên lạc trực tiếp HĐMV hoặc qua e-mail, hdmvgxlavang@yahoogroups.ca trước ngày 25 mỗi tháng.

Rao hôn phối:

Rao hôn phối: Anh Đỗ Quốc Bình con ông Đỗ Hữu Thức và bà Lê Thị Bích (Việt Nam). Chị Nguyễn thị Xuân Hòa con ông Nguyễn Văn Đoán (qua đơì) và bà Hoàng Khuy (Ottawa). Hôn lễ : Nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Ottawa ngày 23/08/2003

Anh Lê Quốc Chiến con ông Lê San và bà Nguyễn Túc (Ottawa) . Chị Trần Thị Ái Trâm con ông Trần Gia và Bà Nguyễn Phượng (Ottawa) . Hôn lễ : Nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Ottawa, ngày 29/09/2003.

Ai biết đôi tân hôn trên có ngăn trở nào làm Bí Tích Hôn Nhân không thành, buộc lương tâm phải trình với cha xứ.



Thánh Đa Minh
(1170-1221)
Ngày 08 tháng 08


Sinh trong một gia đình quyền quý và đạo hạnh ở Tây Ban Nha, ngay từ nhỏ Thánh Đa Minh đã có chí hướng đi tu. Ngài theo học ở Palencia, và có lẽ được thụ phong linh mục trong khi còn đi học, và được bổ nhiệm là kinh sĩ ở Osma năm 1199. Ở đây ngài làm bề trên của một tu nghị, nổi tiếng là theo sát quy luật của Thánh Bênêđíctô.

Năm 1203, ngài tháp tùng Đức Giám Mục của Osma đến Languedoc, là nơi Thánh Đa Minh rao giảng chống với lạc thuyết Albigensian, và giúp cải tổ dòng Xitô. Thánh Đa Minh thành lập một tổ chức dành cho phụ nữ ở Prouille trong thuộc địa của phe Albigensian và giao cho một vài nữ tu trông coi với quy luật do chính ngài viết ra.

Khi vị đại diện đức giáo hoàng bị bè phái Albigensian sát hại năm 1208, Đức Giáo Hoàng Innôxentê III đã phát động một cuộc thập tự chinh do Bá Tước Simon IV cầm đầu để chống với bè rối này. Thánh Đa Minh đi theo đạo quân để rao giảng cho những người lạc giáo, nhưng không thành công lắm. Vào năm 1214, Bá Tước Simon tặng cho Thánh Đa Minh một lâu đài ở Casseneuil, và cùng với sáu môn đệ, thánh nhân đã thành lập một tu hội tận tụy cho việc hoán cải người lạc giáo Albigensian.

Trong Công Đồng Latêranô lần thứ tư năm 1215, Thánh Đa Minh thất bại trong việc xin phê chuẩn tu hội, nhưng được Đức Giáo Hoàng Honorius III chuẩn y vào năm tiếp đó, và Dòng Thuyết Giảng (các tu sĩ dòng Đa Minh) được thành lập.

Thánh Đa Minh dùng quãng đời còn lại để tổ chức dòng, đi khắp nước Ý, Tây Ban Nha và Pháp để rao giảng và thu hút các thành viên mới, cũng như thiết lập các trung tâm của dòng. Dòng Thánh Đa Minh thành công trong việc hoán cải khi áp dụng quan niệm của thánh nhân là hài hòa giữa đời sống trí thức với nhu cầu của quần chúng.

Ngài triệu tập hội đồng chung trong dòng vào năm 1220 ở Bologna và từ trần ở đây vào năm tiếp đó, sau khi bị lâm bệnh và buộc phải trở về trong chuyến rao giảng ở Hung Gia Lợi.

Ngài được phong thánh năm 1234.



“ Gia Đình là một trường học phát triển nhân tính. Nhưng để gia đình có thể sống trọn vẹn và chu toàn sứ mạng mình, cần phải biết hòa hợp tâm hồn: Vợ chồng phải cùng nhau bàn định cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái.”
( Hiến Chế Mục Vụ, Vui Mừng và Hy Vọng, 52)


Bao Dung Là Tôn Trọng Và Chấp Nhận Sự Khác Biệt


Thiên Chúa tạo dựng vạn vật muôn màu muôn vẻ với tất cả sự phong phú và đa dạng, không cái nào giống cái nào. Trên đời không bao giờ có hai vật hoàn toàn giống nhau, thế nào chúng cũng phải có ít nhiều khác biệt: có thể rất ít mà cũng có thể rất nhiều. Sự khác biệt đó thật là tự nhiên, và chắc chắn nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Nhờ sự khác biệt đó, vũ trụ vạn vật mới tươi đẹp, phong phú, rực rỡ. Nếu vạn vật chỉ có một loại duy nhất, cái nào cũng giống cái nào thì vũ trụ và thế giới này sẽ buồn thảm đơn điệu như thế nào!

Nơi con người cũng thế, không ai giống ai, từ khuôn mặt cho tới tính tình, từ thể xác tới tâm hồn, mỗi người một vẻ, mỗi vẻ mỗi khác. Tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều có cái hay và cái dở riêng, không ai hoàn hảo cả. Người được cái này thì mất cái kia, người được cái kia thì lại mất cái này. Vì thế, để được cả cái này lẫn cái kia, người được cái này phải hợp với người được cái kia thì sự trọn vẹn cả để con người cần lẫn nhau, bổ túc lẫn nhau, có thế con người mới yêu thương nhau. Nếu ai cũng được đủ mọi mặt thì còn ai cần tới ai nữa, còn ai cần hợp tác với ai nữa, và tình yêu cũng khó phát sinh. Tình yêu phát sinh do sự khác biệt, có khác biệt mới thu hút lẫn nhau. Âm thu hút dương, dương hấp dẫn âm, còn âm với âm, dương với dương thì đẩy lẫn nhau.

Trong chương trình của Thiên Chúa, sự khác biệt và không hoàn hảo khiến người ta phải hợp lại với nhau thành gia đình, xã hội để bổ túc lẫn nhau mà tồn tại và phát triển. Không ai sống một mình mà đầy đủ được. Muốn tồn tại và phát triển ta phải nhờ tới biết bao người khác: Để hiện hữu ta phải nhờ cha mẹ, để có gạo ăn ta phải nhờ bác nông dân, để có áo mặc ta nhờ người dệt vải, để có sức khỏe phải nhờ bác sĩ... Sự khác biệt cần thiết và ích lợi như vậy. Nhưng cái lợi nào cũng có mặt trái của nó. Sự khác biệt cũng thế: hễ khác thì thường là khắc. Khắc là không hợp nhau, mâu thuẫn nhau, xung đột lẫn nhau. Mà hễ đã không hợp nhau, hễ có sự xung đột là phải có khó chịu, đau khổ. Đó là cái giá phải trả của sự khác biệt, của sự hợp tác, bổ túc lẫn nhau. Hễ giống nhau thì đâu bổ túc cho nhau được, có hợp tác với nhau cũng chẳng đi đến đâu. Không chấp nhận khó chịu, đau khổ do sự khác biệt gây ra thì chẳng xây dựng được gì cả.

Thật vậy, con diều bay lượn lơ lửng trên bầu trời được là nhờ hợp tác với sợi dây. Nhưng sự hợp tác đó không phải là không có đau khổ. Con diều cảm thấy thực là bực bội vì sợi dây: nó muốn bay cao hơn, xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động ra, nhưng sợi dây cứ cầm giữ nó lại một cách thật là nghiệt ngã. Còn sợi dây cũng bực bội không kém: nó muốn được tự do bay lơ lửng trên bầu trời một cách thoải mái để ngắm sông núi bên dưới, nhưng con diều lúc nào cũng lôi kéo nó đi hết chỗ này tới chỗ kia, nhiều lúc kéo căng quá làm nó như muốn đứt. Thật là khó! không chịu đựng nổi nhau nữa, hai đứa quyết định chia tay, hy vọng đứa nào cũng sẽ được tự do theo ý mình trên bầu trời rộng thêng thang. Nhưng khi chia tay, sự việc đã không xảy ra như chúng mong ước mà tệ hại hơn trước rất nhiều. Tất cả đều rơi xuống đất! Đó là kết quả của việc không chịu đựng nhau!

Cái lý hợp tác sống chung là như thế! Không hợp tác, không sống chung thì không thể làm được việc gì. Hay chỉ hợp tác với những người giống mình thì cũng thế. Mà sống chung, hợp tác với nhau giữa những người khác nhau thì thật là khó chịu. Nhưng thà khó chịu, xung đột mà tồn tại còn hơn! Vấn đề còn lại là làm sao để chấp nhận nhau, chấp nhận những đau khổ khó chịu do những khác biệt của nhau. Tinh thần chấp nhận đó chính là một khía cạnh của Lòng Bao Dung.

Gia đình chính là một nơi sống chung, nơi hợp tác của những đơn vị yêu thương nhau nhất trong xã hội. Nhưng dù có yêu thương nhau đến mấy, gia đình vẫn gồm những phần tử rất khác biệt nhau nên không thể không có những xung đột, khó chịu, thậm chí đau khổ. Càng vui lòng chấp nhận những khác biệt đau khổ đó thì gia đình càng dễ có hạnh phúc. Trái lại, gia đình sẽ trở thành hoả ngục trần gian ngay nếu các phần tử không muốn chấp nhận những phiền toái bực bội gây ra do sự khác biệt lẫn nhau.

Sự khác biệt nhau trong gia đình tuy gây ra nhiều xung khắc nhưng rất cần thiết. Vì thế, Thiên Chúa sinh ra vợ chồng có tâm lý khác biệt để bổ túc nhau. Chẳng hạn người chồng có cái nhìn tổng hợp bao quát, còn người vợ có cái nhìn phân tích chi li nhỏ nhặt. Gia đình tồn tại được, hạnh phúc được đều cần cả hai kiểu nhìn đó, mà một người thì không thể có được cả hai. Ý thức được như vậy, cả hai vợ chồng sẽ lắng nghe lập trường của nhau để có thể nhìn vấn đề một cách đầy đủ hơn, để hành động sáng suốt hơn. Sự sáng suốt thường không nằm ở một bên mà nằm ở giữa, tức là sự dung hoà giữa hai lập trường đối lập.Vì thế, sự bao dung trong gia đình cũng như ngoài xã hội là điều hết sức cần thiết để gia đình, xã hội tồn tại và hạnh phúc. Người có lòng bao dung là người không những sẵn sàng đón nhận mà còn mong muốn dành chổ đứng và đất sống cho những tư tưởng hay lập trường khác với mình, để gia đình, xã hội, cũng như thế giới phù hợp với luật tự nhiên và chương trình của Thiên Chúa là muốn cho thế giới muôn hình muôn vẻ để cộng tác và yêu thương lẫn nhau.



Bí tích Hôn Phối

"Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại... Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau" (MV 48).

I. Hôn nhân trong chương trình của Thiên Chúa:

Hôn nhân là sinh hoạt quen thuộc của con người ở mọi nơi và mọi thời. Tuy nhiên, cách nhìn về hôn nhân lại có thể rất khác nhau. Đối với người tín hữu Kitô, hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người, nhưng trước hết và trên hết là của chính Thiên Chúa, vì chính Ngài tác tạo hôn nhân (x. MV 48). Chính vì thế, ơn gọi hôn nhân đã được khắc sâu vào bản tính nhân loại, và ẩn bên trong những khác biệt về văn hóa, xã hội, vẫn luôn luôn có những đặc tính chung và thiết yếu cho cuộc sống hôn nhân. Đặc tính ấy là tình yêu bền vững và sự kết hợp bất khả phân ly "người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 2,24); đồng thời mở ra cho sự sống qua việc sinh sản con cái "Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất" (St 1,28).

Tuy nhiên, dọc dài lịch sử nhân loại và ngay trong cuộc sống hôm nay, ta lại thường xuyên chứng kiến quá nhiều đổ vỡ của cuộc sống hôn nhân gia đình. Theo cách nhìn của Kinh Thánh, sự đổ vỡ ấy không phát xuất từ bản tính nhân loại, hay từ bản chất của hôn nhân, nhưng từ tội lỗi. Khi con người bẻ gãy mối quan hệ với Thiên Chúa, thì mối quan hệ nam nữ cũng bị tổn thương. Không còn phải là quan hệ yêu thương thực sự, nhưng là quan hệ thống trị và thèm khát (St 3,16). Ơn gọi mở ra với sự sống cũng trở thành nặng nề vì phải đau đớn khi sinh nở và vất vả trong lao công (St 3, 16-19).

Cho dẫu con người xa lìa Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người. Ngài tiếp tục nâng đỡ và giáo dục ý thức luân lý liên quan đến hôn nhân và gia đình. Cho dẫu còn bất toàn và phải nhượng bộ "sự cứng lòng của con người" (Mt 19,8), luật Môsê đã giúp bảo vệ người phụ nữ đối với sự thống trị độc đoán của người chồng, cũng như giúp đỡ vợ chồng thoát khỏi xu hướng ích kỷ, đi tìm khoái lạc riêng mình, đồng thời biết mở ra cho một lối sống tự hiến, cho đi. Khi các ngôn sứ đến, các ngài giúp dân Chúa đào sâu ý nghĩa về tính chất duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân (x.Hs 1-3; Is 54, 62). Các tác phẩm trong Cựu ước như sách Ruth, Tôbia, Diệu ca là những tác phẩm mang tính giáo dục cuộc sống hôn nhân rất cao.

Tuy nhiên chỉ với Đức Giêsu, hôn nhân mới tìm lại được phẩm giá đích thực và trọn vẹn của mình. Tin Mừng ghi nhận Đức Giêsu đã thực hiện dấu lạ đầu tiên trong khung cảnh một tiệc cưới (x.Ga 2, 1-11). Như thế, Ngài xác quyết tình thiện hảo của hôn nhân, và hôn nhân trở thành dấu chỉ hiệu nghiệm cho sự hiện diện của Chúa Kitô. Đồng thời trong giáo huấn của Ngài, Đức Giêsu xác lập lại tính bất khả phân ly của sự kết hợp vợ chồng, vì "Điều gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly" (Mt 19,6). Đòi hỏi này có thể vượt quá sức tự nhiên của con người. Nhưng khi tái lập ý định nguyên thủy của Thiên Chúa về hôn nhân, Đức Giêsu cùng nâng đỡ đôi vợ chồng bằng ân sủng và sức mạnh của Ngài, ân sủng tuôn chảy từ thập giá cứu độ (x. Mt 19, 11). Chính vì thế, Thánh Phaolô đã trình bày giao ước hôn nhân trong mối liên kết với giao ước giữa Chúa Kitô và Hội Thánh (x. Ep 5, 25-26). Hôn nhân trở thành Bí tích của giao ước mới, nghĩa là hôn nhân vừa diễn tả giao ước giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, vừa chuyển thông ân sủng để đôi vợ chồng sống ý nghĩa giao ước đó.

II. Cử hành Hôn phối và sự ưng thuận tự do:

Chính vì hôn nhân là Bí tích của giao ước giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, nên hôn lễ của đôi bạn công giáo thường được cử hành trong Thánh lễ, vì Thánh lễ là sự tưởng niệm Giao ước Mới. Nhờ đó, đôi hôn phối kết hiệp sự hiến dâng cho nhau với hiến tế của Chúa Kitô, và vì cùng thông phần với Mình Máu Chúa Kitô, họ trở nên "một thân mình" trong Chúa Kitô (x. 1Cr 1o, 17). Vì bí tích là hành động thánh hóa, nên để cử hành Bí tích Hôn phối cách xứng đáng và có hiệu quả (Tông Huấn GD 67), đôi hôn phối phải chuẩn bị trước bằng cách lãnh nhận Bí tích Hòa giải.

Trong Bí tích Hôn phối, chính đôi bạn làm nên Bí tích khi họ bày tỏ sự ưng thuận này tự do trước Hội Thánh, nghĩa là họ không bị ép buộc bất cứ vì lý do gì, cũng không bị ngăn cản bởi luật tự nhiên hay luật Hội Thánh. Việc trao đổi sự ưng thuận này là yếu tố tối cần thiết và làm nên hôn phối. Sẽ không có hôn phối nếu không có sự ưng thuận này (x. Gl 1057). Hôn phối không thành sự nếu thiếu tự do. Linh mục hay Phó tế chủ sự nghi thức sẽ đón nhận lời trao đổi ưng thuận của đôi hôn phối, và chúc lành cho họ nhân danh Hội Thánh.

Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh nói lên ý nghĩa kết hôn là một hành động mang ý nghĩa Hội Thánh. Đồng thời, vì Bí tích Hôn phối là một hành vi Phụng Vụ, và hôn nhân là một lối sống trong Hội Thánh, nên Hội Thánh yêu cầu đôi bạn cử hành hôn phối theo nghi thức của Hội Thánh. Để cho sự ưng thuận của đôi hôn phối thực sự là hành vi tự do và có trách nhiệm, để cho giao ước hôn nhân có được nền tảng vững chắc và bền vững về mặt nhân bản cũng như tôn giáo, việc chuẩn bị cho các đôi tân hôn là công việc rất quan trọng. Đây là bổn phận không những của các chủ chăn, nhưng còn của các bậc cha mẹ và mọi thành phần dân Chúa.

III. Hiệu quả của Bí tích Hôn phối:

Sự ưng thuận mà đôi bạn trao cho nhau được chính Thiên Chúa đóng ấn. Như vậy, giao ước hôn nhân hội nhập giao ước giữa Thiên Chúa với con người, và "tình yêu vợ chồng đích thực được kết nhập trong tình yêu Thiên Chúa" (MV 48). Vì thế, sợi giây hôn phối liên kết hai người mãi mãi không bị cắt đứt, và Hội Thánh không có quyền đi ngược lại thánh ý Thiên Chúa. "Chúa Kitô ban dồi dào ân phúc cho tình yêu vợ chồng... Như xưa kia Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và trung thành; ngày nay Đấng Cứu Thế, bạn Trăm Năm của Hội Thánh, cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí tích Hôn phối. Người còn ở lại với họ để hai vợ chồng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau, như Người đã yêu thương Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh" (MV 48). Như thế, ân sủng được ban trong Bí tích Hôn phối nhằm kiện toàn tình yêu vợ chồng, và kiên cường sự hiệp nhất bất khả phân ly.

IV. Ích lợi và đòi hỏi:

1. Đơn nhất và bất khả phân ly
"Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một thân mình" (Mt 19,6). Tình yêu hôn nhân liên kết hai người nam nữ thành một, không chỉ trong thân xác, nhưng trong con người toàn diện: thân xác, tình cảm, tinh thần và ý chí. vì thế, sự kết hợp giữa hai người phải mang tính đơn nhất và bất khả phân ly, nghĩa là một vợ một chồng và gắn bó với nhau đến trọn đời. Đòi hỏi này phát sinh từ chính bản chất của tình yêu, nhưng được kiên cường, thanh tẩy và kiện toàn nhờ hiệp thông với Đức Giêsu Kitô. Đòi hỏi đó cũng diễn tả sự bình đẳng nhân vị giữa người nam và người nữ. Vì thế, chế độ đa thê đi ngược lại với tình yêu hôn nhân đích thực.

2. Trung tín
Ở tự bản chất, hôn nhân gọi mời trung tín. Hơn thế nữa, ích lợi của con cái cũng đòi hỏi đôi vợ chồng phải trung tín với nhau. Nhưng đối với người tín hữu, lý do sâu xa nhất của đòi hỏi này là sự trung tín của chính Thiên Chúa trong giao ước với con người và của Chúa Kitô với Hội Thánh. Nhờ Bí tích Hôn phối, đôi vợ chồng khám phá ý nghĩa sâu xa của đòi hỏi trung thành, đồng thời diễn tả ra bên ngoài và làm chứng bằng chính cuộc đời mình. Hội Thánh biết rằng sống được tình yêu trung tín như thế không phải là điều dễ dàng, nhất là trong thời đại hôm nay. Tuy nhiên với ơn Chúa và sự nâng đỡ của cộng đoàn, đôi vợ chồng có thể chia sẻ và làm chứng cho tình yêu trung tín của chính Thiên Chúa và Hội Thánh biết ơn các đôi vợ chồng. Trong một vài trường hợp, khi cuộc sống chung không thể tiếp tục được vì nhiều lý do, Hội Thánh có thể cho phép ly thân. Hai người vẫn là vợ chồng trước mặt Chúa, và hy vọng nhờ tinh thần hòa giải, một ngày nào đó, họ có thể tiếp tục cuộc sống chung như trước. Đối với một số đôi hôn phối đã li dị và kết hôn một lần nữa theo luật dân sự, Hội Thánh không nhìn nhận cuộc hôn nhân mới là thành sự, và vì thế, họ không được Rước Lễ, không được thi hành một vài trách nhiệm trong Hội Thánh, và chỉ được lãnh nhận Bí tích Hòa giải khi ăn năn sám hối và cương quyết sống tiết dục hoàn toàn. Đồng thời Hội Thánh mong ước các Linh mục và cộng đoàn tín hữu quan tâm chăm sóc những anh chị em sống trong hoàn cảnh khó khăn đó, để họ không mang mặc cảm bị tách rời khỏi Hội Thánh, nhưng tiếp tục tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, kiên trì cầu nguyện và thực thi việc bác ái (x. Tông huấn GĐ 84).

3. Trách nhiệm sinh sản
"Tự bản tính, hôn nhân và tình yêu vợ chồng hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Con cái vừa là ân huệ cao quí nhất của hôn nhân, vừa góp phần rất lớn vào hạnh phúc của cha mẹ" (MV 58). Việc sinh sản và giáo dục ở đây không chỉ nhằm đến đời sống thể lý nhưng cả đời sống luân lý, tinh thần và tâm linh của con cái. Vì thế, cha mẹ lãnh nhận trách nhiệm giáo dục rất lớn. Đối với những đôi vợ chồng hiếm muộn, cuộc sống hôn nhân của họ vẫn có thể mang đầy ý nghĩa. Thay cho hoa trái là con cái, hoa trái trong cuộc đời họ là lòng bác ái, sự phục vụ và chính hi sinh của họ.

V. Hội thánh tại gia:

Thiên Chúa đã làm người trong khung cảnh một gia đình, và Hội Thánh chẳng là gì khác hơn "gia đình của Chúa". Trong thời đại hôm nay, gia đình tín hữu chiếm vị trí quan trọng đặc biệt, là trung tâm tỏa sáng đức tin. Vì thế, Hội Thánh gọi gia đình là "Giáo Hội tại gia". Chính trong khung cảnh gia đình, người tín hữu sống và thể hiện những chức năng chính yếu của Hội Thánh: tư tế, ngôn sứ và vương đế. Gia đình là nơi cha mẹ làm chứng đức tin cho con cái, và giúp con cái khám phá ơn gọi Chúa dành cho nó. Gia đình là nơi các thành viên kết hợp với nhau trong kinh nguyện, trong sự bỏ mình và đời sống thánh thiện. Gia đình cũng là nơi chúng ta học tập những đức tính nhân bản và Kitô giáo, nhất là tinh thần phục vụ, yêu thương, quảng đại và tha thứ. Đối với những anh chị em không kết hôn và phải sống cô độc vì nhiều hoàn cảnh khác nhau, lời của Đứa Gioan Phaolô II thật đáng ghi nhớ: "Trong thế giới này, không ai là không có gia đình. Hội Thánh là ngôi nhà và gia đình của tất cả mọi người, nhất là những ai phải gồng gánh nặng nề" (Tông huấn CĐ 85). Những anh chị em ấy gần gũi với Trái Tim Chúa cách riêng, và các mục tử cần dành cho họ sự chăm sóc đặc biệt.

VI. Sống ơn gọi hôn nhân:

Trong truyền thống lâu dài của mình, Hội Thánh Công Giáo luôn chú tâm đến cuộc sống hôn nhân gia đình. Ngày nay, cuộc sống hôn nhân đang bị đe dọa trầm trọng, và nhiều gia đình đã hoặc đang có nguy cơ đổ vỡ. chính vì thế, việc chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân trở nên cần thiết hơn bao giờ. Ở một số giáo xứ, các Linh mục đã tổ chức những khóa chuẩn bị hôn nhân, giúp các bạn trẻ ý thức về nhiều mặt trong cuộc sống gia đình: tâm lý, thiêng liêng, phái tính, kinh tế... Những công việc đó thật đáng khuyến khích và cần nhân lên nhiều hơn nữa.

Chúa Kitô ban những ân sủng cần thiết cho đôi vợ chồng trong cuộc sống hôn nhân, nhưng Ngài không cưỡng ép. Chính đôi vợ chồng phải biết đón nhận ân sủng đó, qua tình thương chăm sóc cho nhau, qua kinh nguyện và việc lãnh nhận các Bí tích nhất là Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể. Bí tích Hòa giải giúp họ vượt qua những lỗi lầm trong quan hệ vợ chồng và trong trách nhiệm làm cha mẹ. Bí tích Thánh Thể giúp họ đi sâu hơn vào mối hiệp thông với Chúa, nhờ đó sống mối hiệp thông trong gia đình tốt đẹp hơn.

"Có một bậc sống rất giá trị để thể hiện nhiệm vụ ngôn sứ của người giáo dân, đó là đời sống hôn nhân và gia đình. Gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân" (GH 35). Chính trong gia đình, con cái lãnh nhận những bài học đầu tiên về đức tin, qua gương sáng của cha mẹ. Các bậc cha mẹ cần ý thức điều này, và như thế, bằng chính bổn phận gia đình, họ góp phần vào sứ mạng chung của Hội Thánh.



Các Nhân Đức


"Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen thì xin anh em hãy để ý và Thiên Chúa bình an sẽ ở với anh em" (Pl 4,8-96).

Đối với người Việt Nam, chữ Đức đóng một vai trò rất quan trọng, và Đức được hiểu là "cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lý trong tính nết, tư cách, hành động của con người". Đã biết Đạo thì phải sống Đạo, và cuộc sống ấy thể hiện qua cái Đức. Quan niệm nầy thật gần gũi với người tín hữu Kitô. Với Kitô hữu, nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên định để làm điều thiện. Người nhân đức là người hướng về điều thiện với tất cả năng lực thể xác và tinh thần. Vậy đâu là những nhân đức căn bản của đời sống Kitô hữu, và phải làm gì để có được những nhân đức ấy?

I. Các đức tính nhân bản:

Các đức tính nhân bản là những xu hướng bền vững, dẫn đến thái độ kiên định và thói quen hướng thiện của lý trí và ý chí; nhờ đó con người điều chỉnh các hành vi và cách sống của mình theo lý trí và đức tin. Có bốn đức tính căn bản: khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ.

Khôn ngoan là đức tính giúp ta nhận ra đâu là điều thiện đích thực trong từng hoàn cảnh, và khi đã nhận ra thì biết chọn lựa phương thế thích hợp để đạt tới. Không nên lầm lẫn khôn ngoan với nhút nhát và sợ hãi, lại càng không thể đồng hóa khôn ngoan với sự tráo trở, giả hình. Nhờ khôn ngoan ta biết ứng dụng lề luật luân lý vào những hoàn cảnh cụ thể để thi hành điều thiện cách tốt đẹp nhất.

Công bình là trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa, và trả cho tha nhân những gì thuộc về họ. Công bình đối với Thiên Chúa được gọi là "nhân đức thờ phượng" còn đối với con người, công bình là tôn trọng quyền lợi của mỗi người, đối xử công minh với mọi người và thực thi công ích.

Can đảm là kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện cho dẫu có nhiều khó khăn cản lối. Nhờ đó, ta cương quyết chống lại các cơn cám dỗ, vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý, chiến thắng sự sợ hãi kể cả cái chết để dám sống cho chính nghĩa.

Tiết độ là biết điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng đúng mức những của cải trần thế. Nhờ đó ta làm chủ được các bản năng tự nhiên và kiềm chế các ham muốn trong giới hạn chính đáng.

Những đức tính nầy được gọi là nhân bản nghĩa là thuộc về con người. Đã là người, phải có những đức tính căn bản đó. Nhiều người tuy không có niềm tin tôn giáo nhưng vẫn có những đức tính đáng quý nầy. Người Kitô hữu lại cần phải có những đức tính nhân bản hơn những người khác, vì muốn làm con Thiên Chúa thì trước hết phải sống cho ra người. Có được những đức tính nhân bản là nhờ giáo dục, sự kiên trì tập luyện và thực hành trong đời sống. Tuy nhiên tội lỗi đã làm con người bị tổn thương; vì thế, ngoài những nỗ lực tự nhiên, ta còn cần đến ơn Thiên Chúa nâng đỡ nhờ cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích và cộng tác với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.

II. Các nhân đức đối thần:

Gọi là nhân đức đối thần vì những nhân đức nầy quy chiếu trực tiếp về Thiên Chúa như căn nguyên, động lực và đối tượng. Đối với Kitô giáo, các nhân đức đối thần là nền tảng và linh hồn của toàn bộ đời sống luân lý. Thiên Chúa ban cho ta những nhân đức nầy, để ta có khả năng hành động như con cái Thiên Chúa và đáng hưởng sự sống đời đời. Có ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy và Mến (x.1Cr 13,13).

1. Đức Tin:
Đức Tin là một nhân đức nhờ đó ta tin vào Thiên Chúa, tin tất cả những gì Người nói và mặc khải, cũng như những gì Hội Thánh dạy ta phải tin. Đức Tin là một hồng ân nhưng đồng thời cũng là sự đáp trả của con người trước hồng ân của Thiên Chúa. Sự đáp trả ấy mang tính toàn diện nghĩa là của cả lý trí, tình cảm và hành động. Vì thế, đức tin phải được diễn tả ra ngoài bằng việc làm cụ thể. "Đức tin không có việc làm là đức tin chết tận gốc rễ" (Gc 2,26). Hơn thế nữa, người môn đệ Chúa Kitô còn phải can đảm làm chứng và truyền bá đức tin (x.GH 42). Đòi hỏi nầy xuất phát từ chính bản thân của đức tin, và là đòi hỏi cần thiết để được cứu độ "Ai nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 10,32-33).

2. Đức Cậy:
Đức Cậy là nhân đức nhờ đó ta khao khát Nước Trời, và sự sống vĩnh cữu như hạnh phúc của đời mình, tin tưởng vào các lời hứa của Chúa Kitô, và phó thác vào ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần. Con người ta sống không thể không có hy vọng, nếu không nói là người ta sống nhờ hy vọng. Nhưng điều quan trọng là hy vọng vào ai, hy vọng cái gì? Và làm thế nào để đạt tới? Đối với người Kitô hữu, đích điểm của hy vọng không chỉ là hạnh phúc trần thế, nhưng chính là Chúa, là Nước trời và sự sống vĩnh cửu. Đồng thời người Kitô hữu ý thức rằng tự mình không thể đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu ấy, nhưng phải nương tựa vào Chúa. Chính vì thế hy vọng trở thành cậy trông. Đức cậy trông là cái neo chắc chắn bền vững của tâm hồn, là vũ khí bảo vệ ta trong cuộc chiến thiêng liêng, và mang lại cho ta niềm vui ngay giữa những gian truân thử thách. "Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân... " (Rm 12,12). Đời sống cầu nguyện vừa diễn tả vừa nuôi dưỡng đức cậy trông, vì thế ta cần phải đi sâu hơn mỗi ngày vào đời cầu nguyện.

3. Đức Mến:
Đức Mến là nhân đức nhờ đó ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Chúa, và vì yêu mến Thiên Chúa, ta yêu mến người thân cận như chính bản thân. Đức Mến thúc đẩy ta sống con thảo với Cha trên trời, và là anh em của mọi người. Trong ngôn ngữ Việt Nam, người nhân đức là "kẻ có lòng thương người" (x. Từ điển tiếng Việt); nghĩa là lòng yêu thương được coi như cốt lõi của đạo đức. Quan điểm nầy thật gần gũi với đạo Kitô, vì Đức Giêsu đã đặt đức mến làm điều răn mới. Đức mến được coi là "mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3,14) là linh hồn của mọi nhân đức, sự viên mãn của lề luật, là nguồn mạch và cùng đích của việc thực hành các nhân đức: "Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến" (1Cr 13,13). Chúa Kitô chính là gương mẫu cao cả nhất. Ngài đã chịu chết vì yêu mến ta ngay lúc ta còn thù nghịch với Thiên Chúa (x.ra 5,10). Vì thế, Ngài mời gọi ta yêu thương như Người (x.Mt 5,44) yêu cả kẻ thù và đón nhận người bé mọn nghèo hèn như đón nhận chính Ngài (Mt 25,40-45). Ngoài ba nhân đức đối thần, Chúa Thánh Thần còn ban các hồng ân và hoa trái thiêng liêng, giúp người tín hữu dễ dàng sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Bảy ơn Chúa Thánh Thần là: Ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn dũng cảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn biết kính sợ Chúa. Truyền thống của Hội Thánh cũng nói đến 12 hoa trái của Chúa Thần Thánh: "Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết" (Gl 5,22-23).



WASHINGTON - Linh mục Anthony Đào Quang Chính, OP, hiện làm chính xứ Đức Mẹ La Vang và đại diện Giám Mục cho nguời Việt Nam thuộc giáo phận Galveston-Houston, (Texas) đã được Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (USCCB) bổ nhiệm vào chức vụ giám đốc điều hành văn phòng lo cho mục vụ nguời Di Dân và Di Cư. Việc bổ nhiệm này đã được Đức Ông William P. Fay, Tổng Thư Ký HĐGM Hoa Kỳ tuyên bố vào ngày 7-7-2003 tại Washington DC.

Đức Ông Fay nói rằng: "Cha Chính, qua những bài viết và kinh nghiệm mục vụ của Ngài, sẽ mang tới một số kiến thức mới và tài năng cho việc mục vụ rất quan trọng và sinh động này. Chúng tôi hân hoan đón chào ngài vào Hội đồng".

Cha Anthony Đào Quang Chính, thuộc Dòng Đa Minh, có bằng cao học Thần Học thuộc Viện Đại Học Triết Học và Thần Học Đa Minh ở Berkeley, California, và có tiến sĩ giáo dục tại truờng Đại học Houston.

Cha Chính cũng là tuyên úy sinh viên Đại học Houston từ năm 1983 tới 1986, cha phó giáo xứ Holy Rosary Church,ở Houston, từ 1986-1990, Cố vấn Tỉnh Dòng và cổ võ vai trò giáo dân thuộc tỉnh Dòng Đa Minh Miền Nam Hoa Kỳ từ 1988-1993; Giám Đốc đào tạo ơn gọi cho Chủng Viện St. Mary, Houston, từ 1993-1995. Làm cha chính xứ giáo xứ Đức Mẹ La Vang và đại diện Giám Mục cho nguời Công Giáo Việt Nam trong giáo phận Galveston-Houston từ năm 1995. Cha Chính cũng là thành viên Hội Đồng Linh Mục của Giáo Phận Galveston-Houston từ năm 1995 tới 2001.

Trong năm 2002 ngài được bổ nhiệm làm Cố Vấn Tỉnh Dòng Miền Nam Hoa Kỳ. Cha Chính cũng dạy học tại Đại học Thánh Toma và Chủng viện Thánh Toma ở Houston, là giáo sư khách Truờng Thần Học thánh Phanxicô ở Berkeley, California.

Trong hai thập niên qua, Cha Chính đã giảng dạy và thuyết trình khắp nơi, viết chừng 45 bài thảo luận về văn hóa, hội nhập văn hóa, vừa bằng Anh ngữ và Việt ngữ.

Văn Phòng Mục Vụ cho nguời Di Dân và Di Cư giúp phối trí các nỗ lực của các linh mục, tu sĩ nam nữ và lãnh đạo giáo dân trong việc cung ứng mục vụ tới các nguời liên tục di động, hoặc là vừa học vừa lao động, hay chỉ là di du lịch tại Hoa Kỳ. Mục Vụ cho nguời di chuyển gồm cả các công nhân làm việc tại các sân bay và các nguời du lịch, tại các cửa biển, các tuyên úy hàng hải, các công nhân di dân và các thợ làm trong các nông trại.

Cha Đào Quang Chính thay thế Cha Anthony McGuire, vị linh mục này sẽ trở lại làm việc trong Tổng Giáo Phận San Francisco.

LM. John Trần Công Nghị





Nha sĩ NGUYỄN PHÚ HOÀ

Thứ ba, thứ sáu: 8:00 AM - 04:00 PM
Thứ tư, thứ năm: 8:00 AM - 6:00 PM
Thứ Bảy: 9:00 AM - 5:00 PM

267 O' Connor St, Phòng 421
Ottawa, ON K2P 1V3
Tel: 232-6735


DEN's Garage
GENERAL AUTO REPAIRS

Anh Ðền chuyên sửa các loại xe có giá đặc biệt cho người đồng hương

495 Preston St.
Ottawa, ON K1S 4N7
Tel: 236-2886


Vietnam Palace Restaurant
Bán đủ các món ăn thuần túy Việt Nam


Cắt quảng cáo này được giảm 15%

819 Somerset St. W.
Ottawa, ON K1A 6A7
Tel: 238-6758.
Gọi giữ chỗ trước. Chỗ đậu xe rộng rãi


CAPITAL MEMORIAL GARDENS
3700 Prince of Wales Drive


Nhận rõ điều không thể tránh khỏi, chuẩn bị sắp xếp việc hậu sự khi đã hoàn tất mọi việc cho ngày mai
Xin liên lạc anh Vĩnh Ða
Tel: 728-1735
Tận tâm, tín nhiệm và bảo đảm



TRANS Computer
www.transcomputer.ca
trans_computer@hotmail.com

Mua, bán, sửa chữa, lắp ráp thiết bị các loại máy computers cũ mới




Digital Electronics

Chuyên sửa: CAMCORDER-TV-Projection TV-DVD-VCR-STEREO-MONITOR and etc ...
Khảo giá miễn phí - phục vụ nhanh - bảo đảm 3 tháng
209 Bell St N. Tel: (613)237-7951



HB HOME VIDEO EDITING

Edit Video:

Hôn Lễ - Tang Lễ - Sinh Nhật

VSH, Video CD và DVD format.

Please phone: HB 723-5932


MATH TUTORING
DẠY TOÁN

NHẬN DẠY TOÁN LÓP
10, 11 và 12

Do cựu Giáo sư St. Mathew và Algonquin College hướng dẫn.

Please phone: Mr. Hoba Tran
723-5923


CAPITAL PIANO SERVICES
CẢNH NGUYỄN


Piano Tuner Technician

12 Coach House Gate
Nepean, Ont. K2E 7N2

Tel: (613) 727-8420




MAXIM'S HAIR DESIGN
318 BRONSON AVENUE

OTTAWA, ON K1R 6J3
TEL: 233-6593

CHUYÊN: Cắt, Nhuộm, Uốn, Highlight
Dưỡng Da, Chăm Sóc Da Mặt (Facial)


GIỜ MỞ CỬA
Thứ hai-Thứ năm: 10:00AM - 6:00PM
Thứ Sáu: 10:00AM - 6:30PM
Thứ Bảy: 9:15AM - 6:00PM
Chủ Nhật: 10:00AM - 5:30PM

NHÂN VIÊN CHUYÊN NGHIỆP VỚI NHIỀU NĂM KINH NGHIỆM
SẼ TẬN TÌNH PHỤC VỤ CHO ĐẾN KHI QÚI KHÁCH ĐƯỢC HÀI LÒNG



This website is best viewed with Internet Explorer 5.50 or above. If your browser does not display
Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows
Last updated: Mar 01, 2008
webmaster@lavangparish.org