|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() ![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
![]()
Lịch Thánh Lễ trong tháng sáu - THÁNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU 1. Phiên họp HộI Đồng Mục Vụ tháng 06 sẽ được tổ chức vào ngày 13 tháng 06-2003 lúc 8:00 PM tại nhà thờ. Dựa theo ''Tài Liệu Hướng Dẫn Phát Triển HĐMV" của địa phận Ottawa mọi người trong giáo xứ có quyền tham dự các phiên họp này. Xin mời qúy ông bà anh chị em đến tham đự để biết thêm các sinh hoạt của giáo xứ. 2. Ngày 24 tháng 06-2003 kỷ niệm hai năm thành lập giáo xứ Đức Mẹ La Vang và kỷ niệm hai năm Cha xứ thụ phong Linh Mục. Thánh Lễ vào lúc 7:00 PM. Sau Thánh Lễ có tiệc mừng dưới basement. Mỗi người tham dự đóng $10.00. Xin ghi danh tham dự với HĐMV. 3. Huynh Đoàn Đa Minh: Để tạo những sinh hoạt cho Huynh Đoàn và chương trình gây qũy để đóng góp vào dự án xây Đền Thánh Martinô do các Cha phụ tỉnh tại Calgary, Alberta. Huynh Đoàn Đa Minh sẽ tổ chức bán những món ăn Việt Nam vào mỗi Chúa Nhật đầu tháng sau Thánh Lễ Chúa Nhật. Xin ông bà và anh chị em nhiệt tình ủng hộ. 4. Đạo Đời Thứ 7- June 7, 2003 @9:00-12AM. ĐĐ trong mùa hè sẽ được tổ chức ngoài trời (Gatineau Park) trong hoàn cảnh đi bộ (walking/hiking) cùng chia sẽ lời Chúa và suy gẫm để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Rất mong tất cả các bạn thanh niên/thiếu nữ hăng say tham gia. Xin các bạn trả lời sự hiện diện trước thứ 5-June 6,2003 để việc chuẩn bị ẩm thực được chu đáo. Mọi chi tiết xin liên lạc a.Hùng (822-9731); c.Tammy (799-2849) or moderatoroflavang@yahoo.ca 5. Rửa xe gây qũy cho HNNT @ Rome: CN-June 15,2003 - Lễ Các Người Cha. Ban TN sẽ tự nguyện rửa tất cả các xe đậu ở trong bãi đậu xe của khuôn viên Nhà Thờ. Xin qúy vị đem xe vào ủng hộ Thanh Niên. Xin qúy vị nào có hệ thống báo động, hãy tắt trước khi vào Nhà Thờ Rửa Tội Trẻ Em: Đơn xin Rửa Tội trẻ em có để sẵn dưới cuối nhà thờ. Xin trao đơn này cho Cha Xứ ít nhất 3 tuần trước ngày Rửa Tội. Hộp Thơ Góp Ý: Nhằm mục đích làm việc tốt hơn, xây dựng giáo xứ vững mạnh hơn, và phục vụ có hữu ích hơn, anh em HĐMV luôn lắng nghe, tiếp nhận mọi sự góp ý, phê bình xây dựng. Ông bà anh chị em có thể liên lạc trực tiếp với anh em HĐMV, hay qua hộp thơ góp ý để nơi cuối nhà thờ và hoặc qua e-mail: hdmvgxlavang@yahoogroups.ca Hôn Phối: Anh chị nào dự định thành hôn trong giáo xứ Đức Mẹ Lavang, xin liên lạc với cha xứ 6 tháng trước ngày cử hành thánh lễ hôn phối để lo liệu giấy tờ và buộc phải có giấy chứng nhận đã học lớp dự bị hôn nhân dù là không có đạo. Ban Phụng Vụ: * Chị Lương thành viên ban Phụng Vụ được đề cử để mời ông bà anh chị em đọc Thánh Thư và dâng của lễ trong những Thánh Lễ của giáo xứ. * Giáo xứ cần các em giúp lễ, qúi ông bà anh chị em có con em và muốn cho các em giúp lễ, xin liên lạc với Bác Dũng. Vấn Đề Lưu Thông: Xin ông bà và anh chị em lái xe chậm và cẩn thận hơn trên đường Evered và Wsesley trước và sau Thánh Lễ. Vấn Đề Đậu Xe: Xin ông bà và anh chị em lưu ý trong vấn đề đậu xe chung quanh nhà thờ trong giờ lễ. Xin đừng đậu xe cản trở lưu thông trong parking và trước nhà thờ cũng như đường phố và driveways nhà dân chung quanh nhà thờ. Bản Tin Giáo Xứ: Xin mọi ban ngành trong giáo xứ lưu ý ,khi cần thông báo sinh hoạt trên Bản Tin Giáo Xứ, xin liên lạc trực tiếp HĐMV hoặc qua e-mail, hdmvgxlavang@yahoogroups.ca trước ngày 25 mỗi tháng. Cuộc Hội Ngộ Niềm Tin: Được tổ chức tại Roma cho giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại. Giới trẻ trong giáo xứ sẽ tổ chức đi Roma vào ngày 21/07/2003 đến ngày 03/08/2003. Bạn trẻ nào muốn biết thêm chi tiết xin xem tờ bích chương ở cuối nhà thờ. Rao Hôn Phối: Anh Lê Phạm Đình Chương con ông Lê Đình Cường và bà Phạm Thị Như (Montreal) kết hôn cùng chị Chu Ngọc Lan Anh con ông Chu Quang Phan và bà Trương Vũ Ngọc Liên (Ottawa). Hôn lễ sẽ được cử hành tại nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Ottawa, lúc 11:00h ngày 21/06/2003. ![]() Thánh Tâm Chúa Giêsu là nguồn của sự hòa giải ĐTC Gioan Phaolô II nói Thánh Tâm Chúa Giêsu là nguồn của sự hòa giải. Vatican (Zenit 23/06/2002) - ĐTC Gioan Phaolô II nói cho hàng ngàn khách hành hương tụ họp tại quảng trường thánh Phêrô để đọc kinh Truyền tin hôm chúa Nhật (23/06/2002) rằng, Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu có thể là nguồn mạch của sự hòa giải cho một thế giới đang bị đẩm máu bởi các cuộc xung đột. Ngài nói, "Nhân loại ngày nay cần sứ điệp phát xuất từ sự chiêm ngắm Thánh tâm Chúa Kitô, nguồn mạch duy nhất, mà từ đó, nhân loại có thể múc lấy những trữ lượng của đức khiêm nhượng và của sự tha thứ cần thiết, để chữa lành những cuộc xung đột cam go đẩm máu." ĐTC nói, "Việc sùng kính Thánh tâm Chúa Giêsu có nghĩa rằng là tiến vào tâm điểm sâu xa nhất của con người Đấng Cứu thế, tòa ngự của tình yêu cứu chuộc thế gian." Ngài nói tiếp, "Nếu trái tim nhân loại biểu hiện một mầu nhiệm khôn dò, một mầu nhiệm chỉ có một Thiên Chúa biết, thì trái tim của Chúa Giêsu lại càng không thể dò thấu; trong con tim ấy chính sự sống Ngôi Lời chuyển động, và là nơi chứa đựng tất cả những kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết, cũng như tất cả sự viên mãn của thần tính." Ngài giải thích, "Để cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã muốn ban cho con người một trái tim mới, trái tim của Chúa Kitô, kiệt tác Chúa thánh Thần, đã bắt đầu đập trong cung lòng trinh khiết của Mẹ Maria và bị lưỡi đòng đâm thâu trên thánh giá, do đó, trở nên nguồn mạch vô tận của sự sống đời đời." Đấng Kế vị thánh Phêrô đã kết thúc bằng việc nhắc tới trái tim vô nhiễm Đức Mẹ Maria "trung gian Ân sủng và cứu độ" nơi mà ngài cầu xin "lòng thương xót và hoà bình cho Giáo hội và toàn thế giới". ![]() ngày 01 tháng 06 (Lễ Thăng Thiên) Đức Giêsu lên trời, nhưng Ngài vẫn ở với con người cho đến tận thế. Xin cho Kitô hữu được nên giống Đức Giêsu mỗi ngày một hơn. Đức Giêsu lên trời Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy Đức Giêsu đã hiện ra với các tông đồ suốt bốn mươi ngày sau khi Ngài sống lại. Trong thời gian này Người đã ăn uống với các ngài, dạy dỗ các ngài nhiều điều; rồi đến thời đã định, Người đã lên trời trước mắt các ông. Phải hiểu điều này như thế nào, khi người thời nay biết trái đất tròn; như vậy, trời phía trên đầu của người ở Việt Nam, lại là hướng dưới chân của người ở Mỹ, và ngược lại. Một phi hành gia bay lên vũ trụ, trời là khoảng không đối với họ! Tin Mừng Đức Giêsu theo thánh Matthêu cho thấy Đức Giêsu không lên trời, nhưng ở lại với con người cho đến ngày tận thế: “Này đây Thầy ở cùng anh em cho đến ngày tận thế” (Mt.28, 20). Làm sao trả lời cho con người ngày nay về việc hai trình thuật dường như trái ngược nhau? “Lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa”, là một cách nói dùng để chỉ Đức Giêsu được siêu tôn ngang bằng Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng vô hình, làm gì có tay phải tay trái như con người. Đây là cách nói nhân hình, nghĩa là, nói về Thiên Chúa theo kiểu con người. Để hiểu đúng, không được hiểu theo nghĩa đen. Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, nghĩa là, Đức Giêsu là Thiên Chúa. Các ngươi là chứng nhân về những điều này Không phải tất cả mọi người đều được thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Chỉ có một số người được chọn, mới được diễm phúc này, và họ trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Các tông đồ là những người được thấy Chúa, và các Ngài đã là những chứng nhân anh dũng của Đấng Phục Sinh qua việc dùng chính mạng sống mình để làm chứng. “Ngu gì” để chết cho điều không thật hoặc không quan trọng! Sẵn sàng chết để làm chứng Đức Giêsu đã phục sinh, làm cho điều các tông đồ rao giảng “đáng tin”. Các tông đồ đã chết. Các ki-tô hữu là những môn đệ của Đức Giêsu, đến lượt mình, các ki-tô hữu được mời gọi trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh cho con người thời đại hôm nay. Các tông đồ đã chết để làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Ki-tô hữu hôm nay được mời gọi để sống yêu thương, như dấu chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hành động nơi ki-tô hữu trong thế giới này. Yêu, đòi phải hy sinh, và cũng là một cách “chết” cho người yêu. Nên giống Đức Giêsu Đức Giêsu là thượng tế, là của lễ và bàn thờ. Lời Thiên Chúa nhập thể vì yêu con người, Ngài đã chết để đền tội con người, để con người không phải chết vì tội mình nữa nhưng được sống, vì có người đã chết thế cho mình. Đức Giêsu dùng chính máu Ngài để thanh tẩy tội lỗi con người. Ngài thương cảm con người với những yếu đuối và giới hạn của họ. Ngài đã trải qua tất cả những gian nan thử thách, để con người có can đảm tới với Ngài. Là người, anh chị em với nhau. Mỗi người phải trở nên một “Giêsu khác” để thông cảm và nâng đỡ anh chị em mình. Mỗi người được mời trở nên giống Đức Giêsu, bằng “yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”. ![]() ngày 08 tháng 06 (Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống) Mùa phục sinh kết thúc với Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Chúa Nhật sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là lễ Chúa Ba Ngôi, và Chúa Nhật sau lễ Chúa Ba Ngôi là lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu. Các con hãy nhận lấy Thánh Thần Buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra cho các tông đồ. Ngài thổi hơi trên các ông và bảo: “các con hãy nhận lãnh Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha”. Trong ca tiếp liên: “Nếu không có Chúa trợ phù, trong con người chẳng còn chi thanh khiết, không còn chi vô tội. Xin Chúa rửa sạch điều nhơ bẩn, tưới gội chỗ khô khan, và chữa lành nơi thương tích”. Trong lời tha tội của bí tích xá giải, linh mục đọc: “Thiên Chúa là Cha nhân từ hay thương xót, Chúa đã dùng cái chết và sống lại của Con Chúa để giao hoà thế gian với Chúa, và đã ban Thánh Thần để tha tội…” Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hoá, Đấng làm cho con người được giao hoà với Thiên Chúa, Đấng tha tội cho con người, Đấng làm cho con người trở thành con Thiên Chúa. Thánh Thần- Đấng trợ phù “Không ai có thể nói ‘Đức Giêsu là Chúa’ mà không nhờ bởi Thánh Thần”. Thánh Thần giúp con người tin vào Đức Giêsu. Không có ơn của Chúa Thánh Thần, không ai có thể tin vào Đức Giêsu được. Có nhiều ân sủng, có nhiều đặc sủng, nhưng chỉ do một Thánh Thần. Thánh Thần ban cho người này ơn tiên tri, ban cho người kia ơn thông hiểu, ban cho người khác ơn lãnh đạo,… Có nhiều chức vụ, nhiều đặc sủng, nhưng tất cả đều do bởi một Thánh Thần. Cũng chính Thánh Thần liên kết chúng ta nên một, dù chúng ta thuộc thành phần nào, dân tộc nào, chúng ta vẫn làm nên một thân thể trong Đức Giêsu, cũng nhờ chỉ một Thánh Thần. Thánh Thần làm cho con người hiểu nhau, thông cảm lẫn nhau, thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thánh Thần giúp chúng ta cầu nguyện, giúp chúng ta sống đẹp lòng Chúa, làm chúng ta trở nên con người mới. Thánh Thần là Đấng làm mới tất cả. Thánh Thần là Thiên Chúa Nhờ Đức Giêsu phục sinh, và các tông đồ nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói với các ngài khi Đức Giêsu còn sống đời dương thế, các tông đồ “với ơn của Thánh Thần” đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, và sau đó Thánh Thần là Thiên Chúa. Thánh Thần có cùng nguồn gốc nơi Thiên Chúa, Ngài ở nơi Thiên Chúa “Khi Đấng bảo trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha” (Ga.15, 26), được Cha và Đức Giêsu sai gởi “Nhưng Đấng bảo trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga.14, 26). Sứ mạng của Thánh Thần là ở với con người: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em Đấng bảo trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi” (Ga.14, 16), dạy con người mọi sự (Ga.14, 26), làm chứng cho Đức Giêsu (Ga.15, 26), dẫn con người tới sự thật trọn vẹn (Ga.16, 13). ![]() ngày 15 tháng 06 Thời Cựu Ước người Do Thái nhận biết “Thiên Chúa là Đấng duy nhất” (Đnl.6, 4). Nhờ Đức Giêsu, Ki-Tô hữu nhận biết Thiên Chúa là “Ba Ngôi Vị”. Con người nói về Thiên Chúa Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối, ngôn từ con người không thể diễn tả hoàn toàn được. Những hình ảnh diễn tả về Thiên Chúa Cha như một “ông già” râu dài phúc hậu, hoặc “chim bồ câu” chỉ Chúa Thánh Thần, là những hình ảnh biểu trưng. Cả những từ ngữ về Thiên Chúa, như “Cha”, như “Con”, như “Thánh Thần”, cũng là những từ ngữ được dùng với nghĩa loại suy; nghĩa là, chúng chỉ diễn tả được phần nào về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng vô hình, Ngài không có hình ảnh như con người; Thiên Chúa là Cha, nhưng không phải là cha hoàn toàn theo nghĩa con người vẫn thường dùng; Thiên Chúa là Con nhưng cũng không phải là con như con người. Theo con người, cha luôn có trước con, nhưng không như vậy nơi Thiên Chúa Ba Ngôi; nơi Thiên Chúa, Ba Ngôi không ngôi vị nào có trước ngôi vị nào; tuy vậy Thiên Chúa vẫn là Cha, là Lời, là Thánh Thần; và cũng có thể nói Thiên Chúa là Cha, là Con, là Thánh Thần. Nơi con người, chỉ có một bản tính người nhưng có nhiều người khác nhau; nhưng không vậy nơi Thiên Chúa. Tuy một bản tính Thiên Chúa, nhưng Ba Ngôi Thiên Chúa không phải là ba Chúa, mà chỉ là một Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, không có từ ngữ “ba ngôi”. Từ ngữ “ba ngôi” là từ ngữ do các nhà thần học sáng tạo để diễn tả Thiên Chúa là Đấng “nguồn” của mọi sự, Đức Yêsu như Đấng luôn kết hiệp với Thiên Chúa, đến độ đồng nhất với Thiên Chúa, và được diễn tả là “Thiên Chúa nhập thể”, Thánh Thần như Đấng từ Cha và Con. Ba Ngôi Thiên Chúa không phải là ba thực tại (nếu là ba thực tại, nghĩa là, ba Chúa), nhưng chỉ là một thực tại, và là ba ngôi vị phân biệt rõ ràng: Cha không phải là Con hoặc Thánh Thần, Con không phải là Cha hoặc Thánh Thần, Thánh Thần không phải là Cha và Con. Tuy vậy Ba Ngôi là một với nhau, là một trong mọi sự, là một trong bản tính, là một trong ý muốn, là một trong quyền năng, là một trong hiện hữu. Thiên Chúa Đấng là nguyên uỷ mọi loài, là nguồn của tất cả, là “Cha”, là Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, là Thiên Chúa nhập thể, là “Con”, là ngôi hai Thiên Chúa, là Lời Thiên Chúa. Thánh Thần là Thiên Chúa đang hiện diện nơi cung lòng con người, hướng dẫn con người trong mọi sự, dạy dỗ con người mọi điều, là Ngôi Ba Thiên Chúa. Thiên Chúa Đấng Siêu Việt, Đấng vượt trên tất cả, Đấng “ngự trên trời”, đang hiện diện trong cung lòng mỗi người (Ga.14, 16.23). Ngay cả từ ngữ “ngự trên trời”, cũng là cách nói để chỉ Thiên Chúa là Đấng siêu việt mà con người không thể thấu đáo được. Đức Giêsu “lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa” nhưng Ngài đang “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ngôn từ là phương tiện để diễn tả về Thiên Chúa, phaỉ cố gắng để hiểu, và xin ơn Thánh Thần để hiểu Thiên Chúa hơn. Nói như vậy, không phải là phủ nhận giá trị của từ ngữ. Cũng phải dựa vào từ ngữ để hiểu điều Kinh Thánh, Giáo Hội, và các nhà thần học muốn diễn tả. Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương chúng ta vô cùng Giáo Hội đọc Cựu Ước trong niềm tin Thiên Chúa Ba Ngôi, và hiểu Đức Khôn Ngoan đã hiện diện với Thiên Chúa khi Ngài tạo dựng vũ trụ. Đức Khôn Ngoan là Ngôi Lời Thiên Chúa trước khi nhập thể. Đức Khôn Ngoan trước khi nhập thể, vẫn ở nơi Thiên Chúa và đã yêu mến con người. Thánh Thần, Đấng ở nơi Thiên Chúa và được sai tới với con người, sẽ dạy dỗ con người, sẽ dẫn con người tới sự thật trọn vẹn. “Mọi sự của Cha đều là của Thầy” nhưng Thánh Thần lại “lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em”, như vậy nơi Ba Ngôi tất cả là chung. “Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”. Thiên Chúa, Ba Ngôi Thiên Chúa, yêu chúng ta vô cùng. ![]() ngày 22 tháng 06 Có một số Kitô-hữu cho rằng Đức Giêsu là biểu tượng của Thiên Chúa. Mình Máu Chúa Kitô cũng được một số người hiểu như biểu tượng Đức Giêsu hiện diện. Không sai khi nói Đức Giêsu là biểu tượng của Thiên Chúa, và bí tích Thánh Thể là biểu tượng Đức Giêsu phục sinh; tuy nhiên còn có điều gì hơn thế nữa. Đức Giêsu là biểu tượng của Thiên Chúa Biểu tượng khác dấu chỉ. Dấu chỉ là một thực tại hữu hình, chỉ tới một thực tại vô hình. Chẳng hạn, dấu chỉ hoặc dấu hiệu đi đường là những hình vẽ, giúp người lái xe hoặc khách bộ hành biết những thông tin cần thiết. Những dấu chỉ hoặc dấu hiệu này do quy ước mà có. Biểu tượng cũng là dấu chỉ, nhưng nó còn có liên hệ mật thiết đến thực tại nó biểu thị, chẳng hạn trái tim là biểu tượng của tình yêu; vì khi người ta yêu, nhịp đập của trái tim khác với những lúc bình thường. Khi khẳng định Đức Giêsu là biểu tượng của Thiên Chúa, người ta không chỉ muốn nói Đức Giêsu là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện hoặc yêu thương, nhưng còn muốn nói giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa có một mối liên hệ đặc biệt. Nói theo ngôn từ của thánh Phaolô, Đức Giêsu là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”. Các nhà thần học khi nói Đức Giêsu là con Thiên Chúa, thì không chỉ muốn nói Đức Giêsu là con Thiên Chúa như chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng còn muốn nói Đức Giêsu là con Thiên Chúa một cách đặc biệt, chữ Con được viết hoa, hoặc là con đồng bản tính Thiên Chúa. Tuy nhiên khi nói Đức Giêsu là con đồng bản tính Thiên Chúa, các nhà thần học không có ý muốn nói Đức Giêsu và Thiên Chúa là hai Thiên Chúa. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là hình ảnh của Thiên Chúa, là dấu chỉ của Thiên Chúa, là biểu tượng của Thiên Chúa, là Đấng để Thiên Chúa chiếm đoạt Ngài hoàn toàn, đến độ ở một mức độ nào đó có thể nói Ngài “là Thiên Chúa”. Tuy vậy, chỉ có một Thiên Chúa. Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể Trong việc tìm kiếm từ ngữ diễn tả về thực tại Đức Giêsu Kitô, các nhà thần học đã sáng chế ra từ ngữ “Ngôi Lời Thiên Chúa”. Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Từ ngữ này làm cho người ta hiểu, Đức Giêsu không chỉ là một người, được Thiên Chúa chiếm đoạt và trở thành thần-nhân, một người được trở thành Thiên Chúa theo nghĩa “Thiên Chúa làm người để con người được trở thành Thiên Chúa”, nhưng còn nói một nghĩa đặc biệt: Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Nơi Đức Giêsu còn có một điều gì hơn nữa, Ngài là Thiên Chúa ”từ trước”. Đức Giêsu vẫn khác biệt với Thiên Chúa cho dù Ngài “là Thiên Chúa”, nên các nhà thần học diễn tả bằng từ ngữ, Ngài là “Ngôi Lời Thiên Chúa” nhập thể. Ngôi Lời Thiên Chúa và Thiên Chúa có gì khác? Các nhà thần học diễn tả: cái khác là “ngôi vị”. Có điều chữ ngôi vị này không giống chữ “persona” của con người ngày nay. Ngôi Lời, hay Ngôi Hai, hay Chúa Con, vẫn đồng nhất với Thiên Chúa, vẫn là một Thiên Chúa; không giống như bạn và tôi là hai ngôi vị, và hàm chứa là hai thực tại khác nhau. Để hiểu Ngôi Lời (Chúa Con), Ngôi Cha (Thiên Chúa), Ngôi Ba (Thánh Thần) khác nhau thế nào, người ta phải hiểu trong văn mạch; đây là những từ ngữ diễn tả về Thiên Chúa, diễn tả thực tại đặc biệt của Đức Giêsu Kitô, và sau đó diễn tả tương quan giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa cùng Thánh Thần. Giáo Hội không áp đặt một ý nghĩa cho Thiên Chúa, rồi nói Thiên Chúa phải như vậy; nhưng Giáo Hội diễn tả thực tại Đức Giêsu và tương quan của Ngài với Thiên Chúa. Đức Giêsu là người tuyệt vời, và còn hơn là một người nữa. Còn hơn là một người nữa, nghĩa là gì? “Là Thiên Chúa”. “Là Thiên Chúa” nhưng vẫn khác với Thiên Chúa, và điều này nghĩa là gì? Các nhà thần học diễn tả điều này bằng “Ngôi Lời Thiên Chúa”, là “Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể”. Bí tích Thánh Thể là Mình Máu Thánh Đức Chúa Kitô Tấm hình chụp một người, là dấu chỉ về người đó. Một phần thân thể của một người, có thể trở thành dấu chỉ và biểu tượng của người đó. Những thói quen, những lời nói, có thể là những dấu chỉ gợi nhớ đến một người. Theo nghĩa này, nghi thức “bẻ bánh” có thể làm cho người ta nhớ đến Đức Giêsu vì Ngài vẫn hay làm điều này. Bí tích Thánh Thể không chỉ là những hành vi gợi nhớ Đức Giêsu. Nếu chỉ là hành vi gợi nhớ, thì ai làm cũng được. Chỉ cần chọn một người xứng đáng nhất trong những người hiện diện để thực hiện hành vi này mà thôi. Nơi Tin Mừng được đọc hôm nay, những người Do Thái hiện diện không hiểu lời nói của Đức Giêsu đơn thuần như vậy. Họ hiểu theo nghĩa đen: “làm sao người này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?” Những lời của Đức Giêsu được hiểu “đúng” tới mức độ gây ấn tượng rất mạnh đến nỗi nhiều môn đệ đã theo Đức Giêsu và bỏ đi khi nghe những lời này. Đức Giêsu là lương thực nuôi dưỡng con người. Thịt máu Đức Giêsu là của ăn của uống cho con người. “Con người sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn bởi Lời Thiên Chúa nữa”. Bí tích Thánh Thể không chỉ là duyên cớ tập họp tín hữu để qua đó dân Chúa được dạy dỗ bằng Lời Thiên Chúa, nhưng còn là chính thân xác của Đức Giêsu Phục Sinh. Bí tích Thánh Thể là thân xác của Đức Giêsu phục sinh nuôi dưỡng con người, cũng tương tự Mình Máu Đức Chúa Giêsu là của ăn của uống cho con người mà ngày xưa Đức Giêsu đã đề cập đến. ![]() ngày 29 tháng 06 Thánh sử Máccô chấm dứt phần thứ nhất của Phúc Âm với một tuyệt đỉnh thắng lợi. Sau khi ghi lại nhiều sự hồ nghi, hiểu lầm và chống đối Đức Giêsu, giờ đây Phêrô tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Thiên Sai" (Máccô 8:29b). Đó là một trong những giây phút huy hoàng của cuộc đời Thánh Phêrô, kể từ ngày ngài được kêu gọi ở Biển Galilê để trở thành kẻ lưới người. Tân Ước rõ ràng cho thấy Phêrô là vị lãnh đạo các tông đồ, được Đức Giêsu chọn với một tương giao đặc biệt. Cùng với Giacôbê và Gioan, Phêrô được đặc ân chứng kiến sự Biến Hình, sự sống lại của một đứa trẻ đã chết và sự thống khổ trong vườn Cây Dầu. Ngài được sai đi với Gioan để chuẩn bị cho lễ Vượt Qua trước khi Đức Giêsu từ trần. Tên của ngài luôn luôn đứng đầu các vị tông đồ. Và Phêrô là người duy nhất được Đức Giêsu nói, "Này Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Bởi thế, Thầy bảo với anh: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời. Anh cầm buộc gì dưới đất, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; anh tháo cởi điều gì dưới đất, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mátthêu 16:17b-19). Nhưng các chi tiết xác thực của Phúc Âm cho thấy các thánh sử không xu nịnh Phêrô. Hiển nhiên ngài là một người không biết giao tế. Và đó là sự an ủi lớn lao cho chúng ta khi thấy Phêrô cũng có những yếu đuối con người, ngay cả trước mặt Đức Giêsu. Phêrô đã độ lượng hy sinh mọi sự, tuy nhiên ngài vẫn có thể hỏi một câu thật nông cạn như trẻ con, "Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?" (x. Mt 19:27). Ngài phải chịu sự tức giận vô cùng của Đức Kitô khi chống đối ý tưởng của một Đấng Thiên Sai đau khổ: "Satan, hãy lui ra sau Ta! Anh cản lối Ta. Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" (Mt. 16:23b). Phêrô sẵn sàng chấp nhận lý thuyết về sự tha thứ của Đức Giêsu, nhưng dường như chỉ trong giới hạn bảy lần. Ngài đi trên mặt nước khi vững tin, nhưng bị chìm khi hồ nghi. Ngài không để Đức Giêsu rửa chân cho mình, nhưng lại muốn toàn thân được sạch. Ngài thề không khi nào chối Chúa trong bữa Tiệc Ly, và sau đó lại thề với người tớ gái là ngài không biết người ấy. Ngài trung thành chống lại sự bắt giữ Đức Giêsu bằng cách chém đứt tai tên Man-khô, nhưng sau cùng ngài lẩn trốn với các tông đồ khác. Trong sự phiền muộn vô cùng, Đức Giêsu đã nhìn đến ngài và tha thứ cho ngài, và Phêrô đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết. ![]() ngày 29 tháng 06 Cuộc đời Thánh Phaolô khi ngài bắt đầu rao giảng là chỉ có Đức Kitô mới cứu chuộc được chúng ta. Ngài từng là người Pharixiêu hơn ai hết, trung thành với luật Môisen hơn ai hết. Nhưng bây giờ bỗng dưng ngài xuất hiện trước các người Do Thái như một người lạc giáo của Dân Ngoại, một kẻ phản bội và chối đạo. Tâm điểm đức tin của Phaolô thật đơn giản và tuyệt đối: chỉ Thiên Chúa mới có thể cứu chuộc nhân loại. Không một nỗ lực nào của con người -- ngay cả việc tuân giữ lề luật cặn kẽ nhất -- có thể tạo nên công trạng để chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa như của lễ đền tội và đền đáp các ơn sủng. Để được cứu chuộc khỏi tội lỗi, khỏi sự dữ và cái chết, nhân loại phải triệt để mở lòng cho quyền năng cứu độ của Đức Giêsu Kitô. Phaolô không bao giờ mất sự yêu quý dòng dõi Do Thái của ngài, mặc dù ngài tranh luận nhiều với họ về sự vô dụng của Luật mà không có Đức Kitô. Ngài nhắc nhở cho Dân Ngoại biết rằng họ được tháp nhập vào tổ tiên của người Do Thái, là những người được Chúa chọn, là con cái của lời đã hứa. Vào ngày 29-6, chúng ta tưởng nhớ sự tử đạo của hai vị tông đồ. Ngày tháng này có từ năm 258, dưới thời bách hại của Valerian, khi các tín hữu tìm cách lấy xác của hai ngài để khỏi rơi vào tay các kẻ bách hại. Kinh Thánh không ghi lại cái chết của Thánh Phêrô và Phaolô, hoặc bất cứ vị Tông Đồ nào, ngoại trừ Thánh Giacôbê con ông Giêbêđê (TVCĐ 12:2), nhưng qua các bài đọc và truyền thuyết có từ thời Giáo Hội tiên khởi, các ngài đã tử đạo ở Rôma dưới thời Hoàng Đế Nêrô, và được chôn cất ở đây. Là một công dân Rôma, có lẽ Thánh Phaolô bị chặt đầu. Còn Thánh Phêrô, được biết ngài bị treo ngược đầu trên thập giá. ![]()
![]() ![]() Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows Last updated: Mar 01, 2008 webmaster@lavangparish.org | |||||||||||||||||||||||||||||||