|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() ![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
![]()
Lịch Thánh Lễ trong tháng năm - THÁNG KÍNH ÐỨC MẸ 1. Sau gần 2 năm từ khi thành lập, giáo xứ chúng ta chưa có Bản Nội Quy để điều hành. Hội Ðồng Mục Vụ đã và đang cố gắng hoàn tất công việc này trong 2 tháng tới. Bản dự thảo Nội Quy Giáo Xứ Ðức Mẹ La Vang đã hình thành và đã được soạn thảo dựa trên Tài Liệu Hướng Dẫn Việc Triển Khai Hội Ðồng Mục Vụ của Ðịa Phận Ottawa, và dựa trên tình trạng hiện nay của Giáo Xứ. Ðể Bản Nội Quy được hoàn tất thích ứng với nhu cầu, sinh hoạt của Giáo Xứ, và phù hợp với văn hóa phong tục dân tộc, HÐMV xin kính mời toàn thể quý ông bà anh chị em trong Giáo Xứ, tham dự phiên họp toàn Giáo Xứ vào lúc 7 giờ tối thứ Bẩy, ngày 31 tháng 05 -2003 tại giáo đường Giáo Xứ Ðức Mẹ La Vang. Sau Thánh Lễ Chúa Nhật, ngày 11 tháng 05- 2003, xin ông bà và anh chị em liên lạc với anh Ðồng, Chủ Tịch HÐMV tại cuối nhà thờ để nhận bản dự thảo này và bản song ngữ Tài Liệu Hướng Dẫn Việc Triển Khai Hội Ðồng Mục Vụ của Ðịa Phận Ottawa. Vì tương lai và công cuộc xây dựng, gìn giữ Giáo Xứ ngày càng vững mạnh, xin quý ông bà anh chị em tích cực tham dự và đóng góp ý kiến. HÐMV rất mong và luôn lắng nghe ý kiến xây dựng của ông bà anh chị em để tu chỉnh, hoàn tất Bản Nội Quy Giáo Xứ trước khi trình lên Ðịa Phận và áp dụng. Chân thành cám ơn ông bà anh chị em. 2. Ban Thanh Niên tổ chức chương trình gây quỹ để góp phần chi phi cho chuyến đi tham dự Hội Ngộ Niền Tin ở Roma được tổ chức vào ngày 24-27 tháng 07 năm 2003. Thanh niên sẽ tổ chức bán các món ăn sau Thánh Lễ Chúa Nhật ngày 11 tháng 05-2003 tại basement nhà thờ. Xin ông bà và anh chị em nhiệt tình ủng hộ. 3. Ban Phụng Vụ: - Chị Lương thành viên ban Phụng Vụ được đề cử để mời ông bà anh chị em đọc Thánh Thư và dâng của lễ trong nhữngThánh Lễ của giáo xứ. - Giáo xứ cần các em giúp lễ, qúi ông bà anh chị em có con em và muốn cho các em giúp lễ, xin liên lạc với Bác Dũng. 4. Vấn đề lưu thông: Xin ông bà và anh chị em lái xe chậm và cẩn thận hơn trên đường Evered và Wesley trước và sau Thánh Lễ. 5. Bản Tin Giáo Xứ: Xin mọi ban ngành trong giáo xứ lưu ý, khi cần thông báo sinh hoạt trên Bản Tin GiáoXứ, xin liên lạc trực tiếp HÐMV hoặc qua e-mail, hdmvgxlavang@yahoogroups.ca trước ngày 25 mỗi tháng. ![]() Cách thức Lần hạt Trọn tràng hạt Mân Côi gồm 15 chục, nhưng chia ra ba phần riêng biệt, mỗi phần gồm 5 chục. Phần thứ nhất là năm Mầu nhiệm mùa Vui, phần thứ hai là năm Mầu nhiệm mùa Thương, phần thứ ba là năm Mầu nhiệm mùa Mừng. Ðể khởi đầu kinh Mân côi, chúng ta làm dấu Thánh giá. Sau đó có thể đọc kinh Tin Kính, 1 kinh Lạy Cha, 3 kinh Kính Mừng, 1 kinh Sáng danh, tay lần khúc đầu của tràng hạt. Tuy nhiên không buộc đọc những kinh vừa nói để đượcc ân xá của kinh Mân Côi. Sau đây là những điều cần phải làm: suy gẫm 1 Mầu nhiệm, đọc 1 kinh Lạy Cha, 10 kinh Kính mừng và 1 kinh Sáng danh. Ðó là 1 chục hạt. Chục nào cũng đọc như thế nhưng với sự suy gẫm các Mầu nhiệm khác nhau. Hết tràng hạt thì đọc kinh Lạy Nữ Vương, và có thể thêm kinh Cầu Ðức Bà. Năm Sự Mừng * Thứ nhất thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn. * Thứ hai thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời. * Thứ ba thì ngắm: Ðức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Ðức Chúa Thánh Thần. * Thứ bốn thì ngắm: Ðức Chúa Trời cho Ðức Bà lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Ðức Mẹ. * Thứ năm thì ngắm: Ðức Chúa Trời thưởng Ðức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Ðức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Ðức Mẹ trên nước Thiên đàng. Năm Sự Thương * Thứ nhất thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên. * Thứ hai thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho đượcc hãm mình chịu khó bằng lòng. * Thứ ba thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng. * Thứ bốn thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá. Ta hãy xin được vác Thánh giá theo chân Chúa. * Thứ năm thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá. Ta hãy xin đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa. Năm Sự Vui * Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Ðức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhượng. * Thứ hai thì ngắm: Ðức Bà đi viếng Bà thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người. * Thứ ba thì ngắm: Ðức Bà sanh Ðức Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn. * Thứ bốn thì ngắm: Ðức Bà dâng Ðức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho đượcc vâng lời chịu lụy. * Thứ năm thì ngắm: Ðức Bà tìm được Ðức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. ![]() Ngày 16.10.2002, trước đám đông tụ họp tại quảng trường Thánh Phêrô ở Roma mừng kỷ niệm ngày ngài được bầu vào chức vụ Giáo Hoàng, Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã ban hành Tông thư Rosarium Virginis Mariae (Chuỗi Mân côi Ðức Trinh nữ Maria), đồng thời công bố Năm Mân côi, kể từ tháng 10 năm nay đến tháng 10 năm 2003. Tại sao có Tông thư Mân côi và Năm Mân côi này? Một là để đánh dấu khởi đầu năm thứ 25 của ngài trong chức vị giáo hoàng. Hai là để kỷ niệm 120 năm Thông điệp Supremi Apostolatus Officio (Nhiệm vụ tông đồ tối cao) của Ðức Giáo Hoàng Lê-ô XIII, khởi đầu cho một loạt những văn kiện về Tràng hạt Mân côi. Ba là vì trong lịch sử các năm toàn xá, đã có truyền tốt lành là sau năm tưởng niệm Ðức Kitô và mầu nhiệm Cứu độ, Giáo Hội còn tổ chức thêm một năm tôn kính Ðức Mẹ Maria, như là để nài xin Người giúp sức làm cho các ơn đã nhận được trong năm toàn xá được trổ sinh hoa trái. Năm Mân côi 2002-2003 sẽ nhắc lại và tăng cường tác động của ơn Năm Thánh 2000 và trở thành một nguồn hoà bình cho thế giới. Ðức Thánh Cha cũng muốn giúp người Kitô hữu chúng ta khám phá lại chiều kích huyền nhiệm (mystique) và giá trị vô cùng phong phú của lời kinh Mân côi cho cá nhân, cho gia đình, cho các cộâng đoàn Kitô hữu và toàn thể Hội Thánh. Sau cùng, tôi nghĩ rằng lòng tông sùng rất đặc biệt của Ðức Thánh Cha đối với Ðức Mẹ chắc chắn cũng là một yếu tố thúc đẩy ngài ra Tông thư và công bố Năm Mân côi, như chính ngài viết trong Tông thư này: " Bản thân tôi đã không bỏ qua cơ hội nào để khuyến khích việc siêng năng lần hạt mân côi. Từ những năm còn nhỏ, lời kinh này đã luôn chiếm một chỗ quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi . Kinh Mân côi đã đi theo tôi trong những lúc vui cũng như trong những thời buổi thử thách. Tôi đã gửi gắm cho nó bao nỗi bận tâm, lo lắng. Tôi luôn luôn tìm được trợ lực nơi nó. Cách nay 24 năm, ngày 29 tháng 10 năm 1978, chưa đầy hai tuần sau khi được bâu lên làm người kế vị thánh Phêrô, tôi đã hé lộ một chút tâm hồn mình qua lời phát biểu như sau: 'Tràng hạt Mân côi là lời kinh tôi thích. Ðó là một lời kinh tuyệt diệu. Tuyệt diệu về tính đơn sơ và sâu sắc. Có thể nói, kinh Mân côi, một cách nào đó, là một lời kinh giải thích chương cuối của Hiến chế Aùnh sáng muôn dân của Công đồng Vaticanô II đề cập về sự hiện diện của Ðức Thánh Mẫu thiên Cha trong mầu nhiệm Ðức Kitô và Hội Thánh v.v." (số 2). Một điểm hoàn toàn mới. Ðiểm hoàn toàn mới mẻ là Ðức Thánh Cha đã thêm vào các mầu nhiệm mà ta quen gọi là SỰ VUI, SỰ THƯƠNG, SỰ MỪNG, 5 mầu nhiệm ÁNH SÁNG (x.số 19 và 21). Ðó là những mầu nhiệm lấy từ cuộc đời công khai của Chúa Giêsu từ khi chịu phép Rửa đến lúc chịu Thương khó, gồm có (1) Chúa Giêsu chịu phép Rửa, (2) Chúa Giêsu tỏ mình ra tại tiệc cưới Cana, (3) Chúa Giêsu loan báo triều đại Nước Thiên Chúa và kêu gọi phải hoán cải, (4) Chúa Giêsu hiển dung và(5) cuối cùng là Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Tại sao gọi là năm "Sự sáng"? Ðức Giêsu là ánh sáng thế gian theo nghĩa là Người là Ðấng mặc khải. Trong cuộc đời công khai của Người, Người đã chiếu tỏa ánh sáng Mặc Khải trọn vẹn về Thiên Chúa, về con người, vũ trụ và số phận của thế giới :"Bao lâu tôi còn ở trong thế gian, tôi là ánh sáng thế gian" (Ga 9,5). Mầu nhiệm ánh sáng số 1 mặc khải sứ mạng của Ðức Giêsu, Con yêu dấu của Chúa Cha (x.Mt 3,17). Sự sáng thứ 2 nói tới phép lạ đầu tiên Ðức Giêsu làm cho nước hoá thành rượu ngon, theo sự can thiệp của Ðức Maria, qua đó Chúa Cứu Thế tỏ mình ra và các môn đệ tin vào Người (x. Ga 2,1-12); phép lạ này là dấu chỉ về việc mọi thực tại và nhất là thực tại con ngườI được biến đổi và thánh hoánhờ hành động cứu độ của Ðức Giêsu. Sự sáng thứ 3 nói lên việc Chúa Giêsu loan báo Nước Thiên Chúa qua các dụ ngôn và phép lạ, và mời gọi người ta hoán cải (x, Mc 1,15). Sự sáng thứ 4 xảy ra trên núi Thabo, mặc khải bản tính sâu xa của Người là Thiên Chúa và báo trước cuộc phục sinh vinh hiển của Người sau cuộc thương khó (x. Lc 9, 208-36). Sau hết, phép Thánh Thể là một sự sáng vì Thánh Thể là quà tặng phục sinh của Chúa và tóm kết và cô đọng mọi bí tích cứu độ mà Ðức Kitô ban cho Giáo Hội vì phần rỗi của loài người (x.Ga 13, 1 và Mc 14, 22-25). Ðức Thánh Cha đề nghị sắp xếp lại một chút thứ tự ngày đọc các mầu nhiệm chuỗi hạt như sau : Sự Vui : thứ hai và thứ bảy, Sự Thương : thứ ba và thứ sáu như cũ, Sự Sáng : thứ năm, và Sự Mầng : thứ tư và chủ nhật. Vài điểm nhấn mạnh. Tràng hạt Mân côi là một lời kinh Phúc âm: " Qua các yếu tố ngắn gọn của nó, tràng hạt Mân côi tập trung nơi mình tất cả sứ điệp Phúc âm mà nó là một bản tóm lược" (số 1). Các "mầu nhiệm" ta suy ngắm được rút ra từ Phúc âm, hầu hết từ cuộc đời Chúa Cứu thế. Phần đầu của kinh Kính mừng mà ta lặp đi lặp lại 50 lần trong một chuỗi như cái nền cho sự suy niệm của ta, cũng là những lời Phúc âm. Ðối với những người ít ăn học hoặc không có điều kiện đọc Phúc âm, thì kinh tràng hạt quả là một "cuốn Phúc âm cho người nghèo" Tràng hạt Mân côi là một lời kinh hướng về Chúa Kitô. Ðó "là một trong những nẻo đường truyền thống của lời kinh Kitô giáo chú tâm vào việc chiêm ngắm khuôn mặt của Ðức Kitô"(số 18). Tông thư nhắc lại lời của Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI: '...Yếu tố tiêu biểu nhất của nó -việc lặp đi lặp lại lời "kính mừng Maria" - cũng trở thành một lời ca ngợi Ðức Kitô không ngừng, chính Người là đối tượng cuối cùng của lời thiên thần truyền tin cũng như của lời chào của bà mẹ thánh Gioan Tẩy giả: 'Con lòng Bà gồm phúc lạ' (Lc 1,42). Chúng tôi còn nói mạnh hơn nữa : việc lặp đi lặp lại lời Kính mừng Maria tạo thành cái nền trên đó diễn ra sự chiêm ngắm các mầu nhiệm : Ðức Giêsu của mỗi kinh Kính mừng cũng chính là đấng mà các mầu nhiệm nối tiếp nhau lần lượt trình bày cho ta như là Con Thiên Chúa và Con Ðức Trinh nữ.' (số 18). Chuỗi kinh Mân côi mang lại cho ta niềm vui thích biết Chúa Giêsu (x.số 24) và dạy ta học biết Người nhờ Ðức Mẹ vì "trong loài người, không ai biết Ðức Kitô hơn Mẹ; không ai ngoài thân mẫu của Người có thể dẫn ta đi vào một sự hiểu biết sâu xa mầu nhiệm của Người "(số 14). Kinh Mân côi cũng giúp ta sống đời Kitô hữu như Mẹ bằng cách không ngừng lớn lên trong đức Tin, Cậy, Mến và ngày càng nên giống Chúa Giêsu hơn. Ngay việc lặp đi lặp lại kinh Kính mừng cũng là một hành vi của trái tim yêu mến: kinh nghiệm tình yêu nhân loại cho thấy khi người ta yêu nhau người ta có thể và muốn lặp đi lặp lại cùng một lời yêu đương nhưng mỗi lần tâm tình kèm theo lại càng thắm thiết và vẫn mới mẻ. " Việc lặp lặp lại (trong khi lần chuỗi) được nuôi dưỡng bởi ước muốn được luôn nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, đó chính là chương trình đích thực của đời sống Kitô hữu "(số 26). Chuỗi Mân côi còn dạy ta và biết cách suy niệm như Ðức Mẹ Maria, nghĩa là "nhớ lại", "hồi tưởng lại" các biến cố cứu độ, để sống lại các biến cố ấy trong lòng tin và lòng yêu mến, mở rộng tâm hồn ra đón nhận tác động cứu độ của Chúa trong hiện tại, như Giáo Hội mời gọi ta trong cử hành Phụng vụ (x. số 13). Chiều kích chiêm niệm của Tràng hạt Mân côi Có lẽ đây là điều được nhấn mạnh cách riêng trong Tông thư này. "Tràng hạt Mân côi nằm trong truyền thống tốt nhất và tinh tuyền nhất của sự chiêm niệm (contemplation) Kitô giáo Ðó là một lời kinh suy ngắm (méditative) tiêu biểu" (số 5). Ở đây Ðức Mẹ vẫn là mẫu mực không thể vượt qua. "Chính từ kinh nghiệm của Ðức Maria mà kinh Mân côi là một kinh rõ ràng là chiêm niệm. Thiếu chiều kích này, nó sẽ bị biến chất, như Ðức Phaolô VI đã nhấn mạnh khi viết :' Không có chiêm niệm, tràng hạt Mân côi là một cái xác không hồn, và việc lần chuỗi sẽ có nguy cơ trở thành một sự lặp đi lặp lại máy móc những công thức. Do tự bản tính nó, tràng hạt Mân côi đòi hỏi phải theo nhịp độ bình thản và người ta không được vội vàng, để cho người lần chuỗi có thể suy niệm tốt hơn các mầu nhiệm cuộc đời Chúa' (số 12) Ðể kết luận. Những điều giới thiệu sơ sài trên đây nhằm mục đích gợi lên lòng ham thích học tập Tông thư "Chuỗi Mân côi Ðức Trinh nữ Maria" rất phong phú này. Nhưng dĩ nhiên học tập mới chỉ là bước đầu; điều quan trọng là thực hiện việc lẫn chuỗi hợp với ý muốn của Ðức Thánh Cha. Ngài kêu gọi :" Một lời kinh dễ dàng như thế, và đồng thời phong phú như thế, đáng cho cộng đoàn Kitô hữu tái khám phá. Chúng ta hãy làm điều đó đặc biệt trong năm này. Tôi hướng tới tất cả anh chị em thuộc mọi tầng lớp, hướng tới các gia đình Kitô giáo, tới anh chị em bệnh tật và những người tuổi tác, tới các bạn trẻ : với lòng tin tưởng, hãy cầm lấy lại chuỗi tràng hạt trong tay, khám phá nó lại trong ánh sáng Kinh Thánh, trong sự hài hoà với Phụng vụ và trong khung cảnh đời sống hằng ngày của anh chị em. Mong rằng lời kêu gọi của tôi không vô hiệu!" (số 43) ![]() Ngày 03 tháng 05 Thánh Giacôbê: Chúng ta không biết nhiều về thánh nhân ngoại trừ tên của ngài, và dĩ nhiên, Ðức Giêsu đã chọn ngài là một trong 12 cột trụ của Israel Mới, là Giáo Hội của Chúa. Thánh Giacôbê không phải là Giacôbê Hành Ðộng, con của Clopas, "anh em" với Ðức Giêsu và sau này là Giám Mục Giêrusalem và là tác giả Thư Thánh Giacôbê. Thánh Philípphê: Ngài cùng quê với Thánh Phêrô và Anrê, ở Bétsaiđa vùng Galilê. Ðích thân Ðức Giêsu gọi ngài, và sau đó ngài tìm gặp ông Nathanaen và nói với ông về "Người mà Môisen đã đề cập đến" (Gioan 1:45). Cũng như các tông đồ khác, phải mất một thời gian thì Thánh Philípphê mới nhận ra Ðức Giêsu là ai. Trong một dịp, khi Ðức Giêsu trông thấy đám đông theo Người và muốn cho họ ăn, Người hỏi ông Philípphê có thể mua thực phẩm ở đâu cho dân chúng dùng. Thánh Gioan nhận xét, "Ðức Giêsu nói như thế là để thử ông, vì Người biết những gì phải làm" (Gioan 6:6). Ông Philípphê thưa, "Dù có tiền lương hai trăm ngày làm việc mà mua thức ăn cho họ thì cũng không đủ mỗi người một chút" (Gioan 6:7). Nhận định của Thánh Gioan không phải là sự khinh thường Thánh Philípphê, mà cốt để chúng ta thấy sự khác biệt giữa khả năng của loài người và quyền năng của Thiên Chúa. Trong một dịp khác, chúng ta có thể cảm được sự bực tức trong lời nói của Ðức Giêsu. Sau khi ông Tôma than phiền là họ không biết Ðức Giêsu đi đâu, Người nói, "Thầy là đường... Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha Thầy. Từ bây giờ trở đi anh em được biết Người và được thấy Người" (Gioan 14:6a, 7). Nhưng ông Philípphê lại hỏi tiếp: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, và như thế là đã đủ cho chúng con" (Gioan 14:8). Thật quá quắt! Ðức Giêsu đáp lại, "Thầy từng ở với anh em bao nhiêu lâu mà anh vẫn chưa biết Thầy sao, hở Philípphê? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha" (Gioan 14:9a). Có lẽ vì Thánh Philípphê có tên Hy Lạp hoặc vì ngài được coi là thân cận với Ðức Giêsu, nên một số người ngoại giáo muốn theo đạo đã đến với ngài và xin ngài giới thiệu với Ðức Giêsu. Ông Philípphê đến nói với ông Anrê, và ông Anrê nói với Ðức Giêsu. Câu trả lời của Ðức Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan là câu trả lời gián tiếp; Ðức Giêsu nói "giờ" của Người đã đến, có nghĩa trong một thời gian ngắn Người sẽ hy sinh mạng sống cho người Do Thái cũng như Dân Ngoại (xem Gioan 12:21 -- 24). Lời Bàn Như trong trường hợp của các tông đồ khác, chúng ta thấy một con người rất bình thường đã trở nên nền tảng của Giáo Hội, và chúng ta cũng được nhắc nhở rằng sự thánh thiện và công cuộc tông đồ thì hoàn toàn do ơn của Chúa, không phải là sự thành đạt của con người. Mọi quyền năng là quyền năng của Thiên Chúa, ngay cả sự tự do của con người để đón nhận ơn sủng của Người. Ðức Giêsu nói với Thánh Philípphê "Con sẽ được mặc lấy sức mạnh từ trời". Nhiệm vụ đầu tiên của các ngài là trục xuất các thần ô uế, chữa lành bệnh tật, loan báo nước trời. Dần dà, các ngài hiểu rằng những dấu chỉ bên ngoài này là các bí tích của một mầu nhiệm cao cả hơn ở bên trong con người -- đó là sức mạnh thần thánh để yêu thương như Thiên Chúa. Ngày 21 tháng 09 Mátthêu là người Do Thái làm việc cho đạo quân xâm lăng La Mã, thu thuế của những người đồng hương Do Thái. Mặc dù người La Mã có lẽ không cho phép moi tiền của người chịu thuế một cách quá đáng, nhưng điều họ quan tâm vẫn là hầu bao của mình nên họ thường làm ngơ về những hành động của "người thầu thuế". Do đó sau này, những người thu thuế thường bị khinh miệt như người phản bội dân Do Thái. Người Pharisiêu coi họ là hạng "tội lỗi." Bởi thế, thật bàng hoàng khi Ðức Kitô gọi một người như vậy để trở nên môn đệ của Người. Mátthêu lại làm Ðức Kitô thêm khó khăn khi tổ chức một bữa tiệc tiễn biệt tại nhà của ông. Phúc Âm kể cho chúng ta biết "nhiều người thu thuế" và "những người nổi tiếng tội lỗi" đã đến dự tiệc. Người Pharisiêu lại càng thêm khó chịu. Một người được cho là vị thầy vĩ đại lại có liên hệ gì với hạng người vô luân đó? Câu trả lời của Ðức Kitô là, "Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu. Hãy tìm hiểu ý nghĩa của câu, 'Ta muốn lòng thương xót, chứ không phải của lễ.' Tôi không đến để kêu gọi người công chính, nhưng là người tội lỗi" (Mt. 9:12b-13). Ðức Kitô không gạt vấn đề thờ phượng và nghi lễ sang một bên; Người chỉ nói rằng việc yêu thương tha nhân thì quan trọng hơn. Trong Tân Ước không còn đoạn nào nói về Mátthêu. Lời Bàn Trong hoàn cảnh bất thường, Ðức Kitô đã chọn một trong những người làm nền tảng cho Giáo Hội, mà qua công việc làm của ông, những người khác nghĩ rằng ông không đủ thánh thiện với chức vụ đó. Nhưng ông đã thành thật thú nhận mình là một người tội lỗi mà Ðức Kitô đã đến để kêu mời. Ông đã thật tình nhận biết chân lý khi ông nhìn thấy Người. "Và ông đã đứng dậy đi theo Người" (Mt. 9:9b). ![]() Cầu nguyện không chỉ là nhu cầu tình cảm bộc phát, cũng không chỉ là những kiến thức trừu tượng. Vì thế, bước vào đời cầu nguyện, phải có ý chí, phải học hỏi và đem ra thực hành. Ðặt mình trong truyền thống cầu nguyện của Hội Thánh, chính là phương thế giúp ta bước vào đời cầu nguyện. I. Những suối nguồn cầu nguyện. Thánh linh là dòng nước ban sự sống, vì ta có thể múc được dòng nước trong lành ấy ở nhiều nguồn suối: 1. Lời Chúa: Nguồn suối đầu tiên là Lời Chúa. Công đồng Vaticanô II căn dặn: "Nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Kinh Thánh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và ta nghe Ngài nói khi đọc các sấm ngôn thần linh" (Mk 25). Nhờ đọc lời Chúa, cầu nguyện thực sự trở thành cuộc tìm kiếm, gặp gỡ, đối thoại và khám phá thánh ý Thiên Chúa trong cuộc đời. 2. Phụng vụ Hội Thánh: Nguồn suối thứ hai là các Bí Tích. Bí tích công bố, hiện tại hóa và chuyển thông ơn cứu độ cho ta. Nếu biết cử hành bí tích với tất cả tâm hồn, thì chính trái tim ta là bàn thờ, trên đó mầu nhiệm cứu độ được tái diễn từng giây từng phút trong cuộc đời. 3. Các nhân đức đối thần: Nguồn suối thứ ba là các nhân đức đối thần, vì các nhân đức nầy đưa ta vào cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Ðức Tin giúp ta đón nhận Chúa xuyên qua các dấu chỉ bí tích, và đón nhận Lời Ngài để tuân giữ. Ðức Cậy trông là thái độ phải có khi cầu nguyện, đồng thời được dưỡng nuôi nhờ cầu nguyện. Vì thế, Thánh Phaolô nguyện xin: "Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an", rồi Ngài lại nói thêm: "Ðể nhờ quyền năng Thánh Thần anh em được tràn trề hy vọng" (Rm 15,13). Ðức Ái là suối nguồn của đời cầu nguyện, vì đức ái lôi kéo mọi sự vào trong Tình Yêu Thiên Chúa, và làm cho ta có thể yêu mến Ngài như Ngài yêu mến chúng ta. Vì thế, ai để cho đức ái hướng dẫn, người ấy sẽ đi đến đỉnh cao nguyện cầu. 4. Cái "hôm nay": Thánh linh là dòng nước hằng sống, không chỉ được ban cho ta khi cử hành bí tích, mà là trong mọi lúc. Vì thế, chính trong cái hôm nay của đời thường, mà ta đón nhận dòng nước hằng sống, mà ta gặp gỡ Chúa "Ước chi HÔM NAY các bạn nghe tiếng Người! Ðừng cứng lòng!" (Tv 95,7-8). Và khi ta cầu nguyện khởi đi từ cái hôm nay của đời thường như thế, ảnh hưởng của Nước Chúa thấm vào trong dòng chảy của cuộc đời, và kinh nguyện trở thành tấm men làm cho cả nắm bột cuộc đời dậy lên một sức sống mới. II. Những nẻo đường cầu nguyện. Có nhiều nẻo đường cầu nguyện, tùy vào khung cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa con người. Nhưng dù nẻo đường nào chăng nữa cũng cần phải trung tín với truyền thống đức tin của các Tông đồ, và đó chính là dấu chỉ nhận diện đâu là nẻo đường đích thực. Sau đây là vài chỉ dẫn: 1. Cầu nguyện với Cha: Cầu nguyện là hướng dẫn tâm hồn lên với Chúa là Cha. Nhưng Ðức Giêsu là con đường duy nhất dẫn ta đến với Cha. Vì thế, dù là lời kinh cá nhân hay cộng đoàn, khẩu nguyện hay tâm nguyện, lời kinh ấy chỉ đến được với Cha, nhân danh Ðức Giêsu. 2. Cầu nguyện với Ðức Giêsu: Dĩ nhiên lời cầu nguyện trước hết phải hướng về Cha, nhưng truyền thống phụng vụ còn để lại nhiều hình thức cầu nguyện trực tiếp với Ðức Giêsu. Ngài được gọi là Con Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa, Cứu Chúa, Con Chí Ái, Sự Sống, Sự Sáng, Niềm Hy Vọng, Sự Phục Sinh của chúng ta... Tuy nhiên, tên gọi cao cả và hàm chứa mọi sự là: GIÊSỤ Tên gọi ấy chứa đựng cả Thiên Chúa, cùng với tất cả chương trình tạo dựng, cứu độ của Thiên Chúa. Khẩn cầu danh thánh GIÊSU là đường lối cầu nguyện đơn sơ nhất và rất phổ biến, có thể sử dụng ở mọi nơi mọi lúc: "Lạy Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót chúng con là kẻ có tội". Việc tôn kính Thánh Tâm Ðức Giêsu và việc đi Ðàng Thánh Giá là những phương thế cầu nguyện quen thuộc và hữu ích. 3. Cầu nguyện với Chúa Thánh Thần: Nếu Ðức Giêsu là con đường duy nhất đến với Cha, thì Thánh Thần lại là Ðấng dẫn ta đi vào con đường đó, vì "Không ai có thể nói rằng: "Ðức Giêsu là Chúa", nếu người ấy không ở trong Thần Khí" (1Cr 12,3). Vì thế Hội Thánh dạy ta cầu khẩn với Chúa Thánh Thần hằng ngày, đặc biệt là khi khởi đầu và kết thúc những công việc quan trọng. Lời kinh trực tiếp và đơn sơ nhất là Kinh Chúa Thánh Thần "Veni, Sancte Spiritus". Có nhiều con đường cầu nguyện, nhưng Chúa Thánh Thần hoạt động trong tất cả, chính trong mối hiệp thông với Chúa Thánh Thần mà chúng ta được dẫn vào đời cầu nguyện mỗi ngày một sâu đậm hơn. 4. Hiệp thông với Thánh Mẫu Thiên Chúa: Ðức Giêsu là con đường của chúng ta trong lời cầu nguyện, nhưng Mẹ MARIA lại là Ðấng chỉ đường (HODIGITRIA). Với tiếng "Xin vâng" trong ngày Truyền Tin, và kéo dài cho đến chân Thập Giá, Ðức Maria trở thành Mẹ Thiên Chúa làm người, và là Mẹ chúng ta. Vì thế, Mẹ MARIA chiếm một vị trí đặc biệt trong đời cầu nguyện của người Kitô hữu. Những lời kinh dâng lên Ðức Mẹ, bao giờ cũng diễn tả hai chiều: một đàng ta ca ngợi những kÿ công Thiên Chúa thực hiện cho tớ nữ của Ngài, và qua đó, cho tất cả nhân loại; đàng khác, ta dâng lời ngợi khen và cầu khẩn Mẹ nâng đỡ. Nội dung đó được thể hiện rất rõ trong Kinh Kính Mừng: một đàng chúng ta chúc tụng Mẹ là "Ðầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ"; đàng khác, chúng ta cầu khẩn "Thánh MARIA, Ðức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen". Không lạ gì Kinh Kính Mừng trở thành lời kinh quen thuộc và thân thiết với mọi tín hữu. III. Ðể bước vào đời cầu nguyện. 1. Gương mẫu của các Thánh: Trong truyền thống cầu nguyện, các Thánh chiếm một vị trí quan trọng. Là những người đã được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, các Ngài không ngừng cầu nguyện thay giúp chúng ta. Vì thế, người tín hữu hướng lòng lên các Thánh, để xin các Ngài chuyển cầu cho mình và cho toàn thế giới. Cùng với các Thánh, nhiều nền linh đạo phong phú đã xuất hiện trong lịch sử Hội Thánh. Những nền linh đạo ấy xuất hiện vào một thời điểm cụ thể, cho thấy đức tin thấm nhập vào lịch sử và môi trường sống của con người; đồng thời những nền linh đạo ấy là những hướng dẫn quí báu cho con người tín hữu trong đời cầu nguyện. 2. Trách nhiệm hướng dẫn cầu nguyện: - Gia đình là nhà trường đầu tiên dạy cầu nguyện. Gia đình là "Hội Thánh tại gia", nơi con cái Thiên Chúa học cầu nguyện. Kinh nguyện hàng ngày trong gia đình là phương thế rất tốt để giáo dục về cầu nguyện, nhất là cho các trẻ em. - Những Thừa tác viên có chức Thánh là những người có trách nhiệm đặc biệt trong việc dạy cầu nguyện, hướng dẫn dân Chúa đến dòng nước hằng sống nhờ Lời Chúa, các Bí Tích, các nhân đức đối thần, cũng như trong cuộc sống hằng ngày. - Ðời Thánh hiến được nâng đỡ và phát triển nhờ cầu nguyện, và là một trong nguồn suối sống động cho đời sống thiêng liêng trong Hội Thánh. - Dạy giáo lý là đòi hỏi cần thiết, giúp người tín hữu suy niệm Lời Chúa, cử hành phụng vụ, nội tâm hóa Lời Chúa, và phát sinh hoa trái tốt đẹp trong cuộc đời. - Những nhóm cầu nguyện xuất hiện rất nhiều ngày hôm nay là một trong những dấu chỉ và sức mạnh canh tân đời cầu nguyện trong Hội Thánh; miễn là phải múc lấy dòng nước hằng sống từ những nguồn suối trong lành, và sự hiệp thông với Hội Thánh là một trong những dấu chỉ cho đời cầu nguyện đích thực. Thánh Thần ban tặng cho một số tín hữu những ân huệ đặc biệt nhằm phục vụ lời cầu nguyện. Những tín hữu đó là những tôi tớ đích thực trong truyền thống của Hội Thánh. 3. Nơi cầu nguyện: Ðể nuôi dưỡng đời cầu nguyện, nơi chốn là vấn đề quan trọng: - Nhà thờ, nhà của Chúa, là nơi dành riêng cho việc cầu nguyện, và thờ phượng Thánh Thể. - Ðể nâng đỡ việc cầu nguyện cá nhân, nên có một "góc cầu nguyện" với Kinh Thánh, ảnh tượng. Trong các gia đình, góc cầu nguyện đó cũng là nơi cho gia đình cầu nguyện chung với nhau hằng ngày. - Các Tu viện là những nơi thuận tiện giúp các tín hữu có được sự cô tịch cần thiết, để đi sâu hơn vào đời cầu nguyện. - Những cuộc hành hương cũng là những cơ hội đặc biệt cho việc canh tân đời cầu nguyện. ![]() "Vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong đền thánh, và cũng đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng. Ngài thật là Mẹ chúng ta" (GH 61) Thiên Chúa nhân hậu khi muốn thực hiện công việc cứu chuộc thế giới vào thời cuối cùng, "đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà" (Gl 4,4), và Người Con đó "đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria" (Kinh Tin Kính). Công việc cứu chuộc vẫn tiếp tục trong Hội Thánh, là thân thể Chúa Kitô. Trong thân thể này, Ðức Maria có mặt như một chi thể trổi vượt, liên kết mật thiết với Ðầu, và hằng yêu thương, bảo vệ hướng dẫn các chi thể khác là các tín hữu, với lòng của người mẹ hiền. I. Ðức Maria là mẹ Hội Thánh. 1. "Khi sứ thần truyền tin, Ðức Trinh Nữ Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, và đem Sự Sống đến cho Thế gian" (GH 53). "Như thế, Ðức Maria, con cháu Ađam, vì chấp nhận lời Thiên Chúa, đã trở nên Mẹ Ðức Giêsu" (id 56). Mẹ đã liên kết mật thiết với Con từ lúc thưa tiếng "Xin Vâng" trong ngày truyền tin, kéo dài đến lúc Chúa Kitô chết trên thập giá. "Như thế, Ðức Trinh Nữ cũng đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Ngài đã từng ở đó" (Ga 19,25). Ðức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế hy vật do lòng mình sinh ra. Và cuối cùng chính Ðức Giêsu Kitô khi hấp hối trên thập giá, đã trối Ngài làm mẹ của môn đệ qua lời này: Thưa bà, này là con Bà" (Ga 19,36-27; GH 58). Sau khi Ðức Giêsu lên trời, Ðức Maria đã ở giữa các Tông đồ, như người Mẹ "giữa một đàn em đông đúc" của Ðức Giêsu (Rm 8,29), Con của Mẹ. Người cùng cầu nguyện với Hội Thánh sơ khai: "Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Ðức Giêsu, và với anh em của Ðức Giêsu" (Cv 1,14). Hơn nữa: "Ðức Maria cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Ðấng đã bao phủ lấy Người trong ngày Truyền Tin" (GH 59), và "ai nấy được tràn đầy ơn Thánh Thần" (Cv 2-4) trong ngày lễ Ngũ Tuần. Sau cuộc đời trần thế, Ðức Maria đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác để hưởng vinh quang thiên quốc. Mẹ là người đầu tiên được tham dự vào cuộc Phục Sinh của Con Mẹ, và như vậy Mẹ là dấu chỉ báo trước và bảo đảm cho các Kitô hữu được sống lại với Chúa Kitô. 2. Hội Thánh chào kính Ðức Maria như chi thể cao cả nhất, có một không hai và như gương mẫu sáng ngời về niềm tin và lòng mến (GH 53). Là mẹ Chúa Kitô, Ðức Maria còn "là Mẹ các chi thể (của Thân thể Chúa Kitô), vì đã cộng tác trong đức ái để sinh ra các tín hữu trong Hội Thánh là những chi thể của Ðầu ấy" (GH 53). Mẹ đã cộng tác đặc biệt với Ðấng Cứu Thế "để đem lại sự sống siêu nhiên cho các linh hồn". Và mẹ luôn tiếp tục thiên chức làm mẹ "cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn" (GH 623). Như vậy, ở trên trời Mẹ Maria không ngừng cộng tác vào chương trình cứu độ, bằng việc cầu bầu và chăm sóc các tín hữu "cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời" (GH 62). II. Việc tôn kính Ðức Trinh Nữ Maria. Ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo, Ðức Trinh Nữ Maria đã được tôn kính với Tước Hiệu "Mẹ Thiên Chúa", và các tín hữu thường chạy đến với Mẹ "trong cơn gian nan thiếu thốn" (Kinh Trông Cậy). Hội Thánh luôn dành cho Ðức Maria lòng yêu mến và tôn kính rất đặc biệt, vượt trên các thiên thần và các thánh. "Từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc, Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả" (Lc 1, 48-49).Việc tôn kính này hoàn toàn khác biệt với sự thờ phượng phải có đối với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhưng lại "khuyến khích thêm việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi" (GH 66). Bởi vì, Mẹ Maria chẳng có sứ mệnh nào khác hơn là dẫn đưa chúng ta tới Ðức Giêsu Kitô Con của Mẹ. Vì thế "Hội Thánh khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Ðức Nữ Trinh nhất là trong Phụng Vụ", một lòng sùng kính không dựa trên tình cảm hay tính dễ tin "nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật... thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta" (GH 67). Lòng tôn kính và yêu mến này, chúng ta bày tỏ trong những ngày lễ kính Mẹ (nhất là lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời ngày 15 tháng 8 và lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm ngày 8 tháng 12) các ngày thứ bảy, và đặc biệt là lần hạt Mân Côi, là Kinh "tóm tắt Phúc Âm" để suy niệm về cuộc đời Ðức Giêsu cùng với Mẹ Maria. III. Ðức Maria, hình ảnh Hội Thánh phải hoàn thành. "Như Thánh Ambrosiô đã dạy, Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Hội Thánh trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô" (GH 63). Thật vậy, Mẹ Maria là hình ảnh của Hội Thánh tại thế "Hội Thánh vì ôm ấp những kẻ có tội trong lòng" (GH 8) hướng nhìn lên Ðức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, một phần tử ưu tú của mình, đã chiến thắng tội lỗi, nhờ hồng ân Chúa Kitô. Vì thế, Hội Thánh luôn luôn kiên trì và tin tưởng trong hành trình đức tin trên trần gian. Hơn nữa Hội Thánh còn ngắm nhìn Ðức Maria như mẫu mực hoàn hảo mà mình phải đạt tới, để trở thành "một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tÿ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền" (Ep 5,27). "Sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang" (Kh 21,2). Do đó, Hội Thánh luôn hướng nhìn lên Ðức Mẹ hồn xác lên trời, như phần tử đầu tiên vượt thắng cái chết mà sống lại trong vinh quang. Mẹ được Thiên Chúa tôn vinh trên trời, là dấu chỉ báo trước và đảm bảo ơn cứu độ vinh quang cho tất cả các phần tử khác của Hội Thánh. "Ngày nay, trên trời Mẹ Ðức Giêsu đã được vinh hiển cả hồn và xác, là hình ảnh và khởi thủy của Hội Thánh phải hoàn thành đời sau; đồng thời, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2Pr. 3,10). Ngài chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành" (GH 68). ![]() Anh Nguyễn Thành Giáp con ông Nguyễn Cần và bà Hàng Thị Kim (California) sẽ kết hôn cùng chị Trần Thu Hằng con ông Trần Văn Huỳnh và bà Trần Thị Ngà (Ottawa). Hôn lễ sẽ được cử hành tại nhà thờ Ðức Mẹ La Vang, Ottawa, lúc 14:00h ngày 24/05/2003. Anh Lê Phạm Ðình Chương con ông Lê Ðình Cường và bà Phạm Thị Như (Montreal) kết hôn cùng chị Chu Ngọc Lan Anh con ông Chu Quang Phan và bà Trương Vũ Ngọc Liên (Ottawa). Hôn lễ sẽ được cử hành tại nhà thờ Ðức Mẹ La Vang, Ottawa, lúc 11:00h ngày 21/06/2003.
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
![]() Vietnamese fonts correctly, go to download free unicode fonts for windows Last updated: Mar 01, 2008 webmaster@lavangparish.org |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||